TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Mỹ: Nền kinh tế tệ hơn tất cả các chỉ số do chính phủ công bố

17-07-2009 - 11:25 AM | Tài chính quốc tế

Mỹ: Nền kinh tế tệ hơn tất cả các chỉ số do chính phủ công bố

Tỷ lệ thất nghiệp hết tháng 6/2009 lên 9,5%, cao nhất trong 25 năm. Thực tế, tình trạng kinh tế Mỹ “ốm yếu” hơn tất cả những chỉ số kinh tế đã được thông báo.

Tỷ lệ thất nghiệp hiện ở mức cao nhất từ khi chính phủ bắt đầu lưu trữ số liệu vào năm 1948.

Những số liệu mới nhất về thị trường việc làm khiến sự tự tin vào khả năng chúng ta đang ở gần điểm đáy của suy thoái giảm bớt. Nếu nhìn qua các thông tin, ta có thể cho rằng các thông tin đó có phần gây nhiễu, thế nhưng thực tế đằng sau con số đó hết sức tệ hại.

Bộ Lao động Mỹ công bố 467 nghìn người Mỹ thất nghiệp trong tháng 6/2009, như vậy 7,2 triệu người đã mất việc từ khi suy thoái kinh tế bắt đầu. Số lượng người mất việc trong 6 tháng qua cao hơn bất kỳ thời điểm nửa đầu năm nào từ Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong đó có tính cả thời kỳ giải trừ quân sự sau Chiến tranh. Tổng số việc làm bị mất bằng tổng số lượng việc làm được tạo ra trong 9 năm trước, đây là đợt suy thoái kinh tế đầu tiên từ Đại Suy thoái 1930, thành quả tăng trưởng việc làm của thời kỳ kinh tế phát triển trước đó bị đánh mất.

Tình hình hiện nay trên thị trường việc làm tệ hại hơn rất nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp 9,5% được công bố:

Số lượng người mất việc trong tháng 6/2009 thực tế có thể tăng thêm tới 185 nghìn. Chính phủ không thể tìm hiểu được con số này, chính phủ đưa ra dự đoán về xu thế. Nhiều ngành không tạo ra một việc làm mới nào như tài chính. Khi số liệu chính thức được điều chỉnh trong vài tháng tới, số liệu thị trường việc làm sẽ còn tệ hại hơn nữa.

Nhiều công ty đang yêu cầu nhân viên nghỉ phép không lương. Những số này không được gộp vào báo cáo thất nghiệp.

Không dưới 1,4 triệu người muốn hoặc sẵn sàng làm việc trong suốt 12 tháng qua nhưng không được gộp vào số liệu thất nghiệp. Tại sao? Bởi họ không tìm việc trong khoảng thời gian 4 tuần trước cuộc khảo sát.

Số lượng người lao động làm việc bán thời gian do kinh tế đi xuống, thực tế đây cũng là một hình thức thất nghiệp. Con số này đã tăng gấp đôi lên 9 triệu tương đương 5,8% lực lượng lao động. Nếu tính cả những người lao động bị cắt giảm giờ làm hoặc không thể tìm được việc làm toàn thời gian, tỷ lệ thất nghiệp sẽ lên tới 16,5%.

Số giờ làm việc trung bình của người lao động trong lĩnh vực tư nhân (chiếm 80% lực lượng lao động) giảm xuống 33 giờ. Như vậy số giờ làm việc như vậy thấp hơn 48 phút so với trước khi suy thoái kinh tế bắt đầu và ở mức thấp nhất từ khi chính phủ bắt đầu tính toán số liệu khoảng 45 năm trước đây. Rất nhiều lao động toàn thời gian cố định buộc phải chuyển sang làm việc bán thời gian, các nhà máy đang hoạt động chỉ với 65% công suất.

Thời gian thất nghiệp trung bình theo số liệu chính thức đứng ở mức 24,5 tuần, dài nhất từ khi chính phủ đưa số liệu vào sử dụng năm 1948. Số lượng người thất nghiệp dài hạn lên mức 4,4 triệu, mức cao chưa từng có.

Lương người lao động không hề tăng trong tháng 6/2009.

Số lượng người mất việc trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa lên cao nhất; 223nghìn/467 nghìn người thất nghiệp tháng 6/2009.

Triển vọng việc làm mới được tạo ra hết sức u ám. Thông thường khi tình hình kinh tế sáng sủa hơn, giới chủ sẽ tăng giờ làm việc đối với người lao động đang làm việc và yêu cầu những người làm việc bán thời gian chuyển sang làm việc toàn thời gian. Nhiều người sau khoảng thời gian mất việc sẽ nhận ra nhiều vị trí trước đây bị sa thải nay sẽ trống vĩnh viễn. Thay vì thu hẹp quy mô hoạt động, nhiều công ty đóng cửa toàn bộ bộ phận đó hay thay đổi cấu trúc cách kinh doanh. General Motors và Chrysler đóng cửa hàng trăm đại lý phân phối xe và ngừng sản xuất một số thương hiệu. Citigroup và Bank of America sa thải hàng chục nghìn lao động, nhiều lĩnh vực nhỏ trong thế giới tài chính ngừng hoạt động vĩnh viễn.

Số lượng người mất việc sẽ tiếp tục tăng cao cho đến năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp sẽ lên mức 11%. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ duy trì ở mức đó thêm một khoảng thời gian dài nữa.

Liệu chúng ta có thể tìm đến sự an ủi trong việc số liệu về thị trường việc làm được coi là một chỉ báo chậm? Số liệu về thị trường việc làm thường được coi như không có nhiều giá trị dự đoán bởi quyết định liên quan đến việc làm thường được đưa ra đầu chu kỳ kinh tế. Ngày nay mọi chuyện đã khác. Tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên mức 9,5% từ mức 4,8% trong 16 tháng, tốc độ tăng quá nhanh đến nỗi điều này có thể ảnh hưởng đến những quyết định kinh tế và triển vọng kinh tế tương lai.

Tại sao điều này lại xảy ra khi chính quyền đã rót hàng nghìn tỷ USD cứu kinh tế, trong đó có kế hoạch kích thích kinh tế 787 tỷ USD dự kiến sẽ mang lại mức lợi tức 1,50USD cho mỗi đồng USD chi tiêu? Trên thực tế, phần lớn tiền trong kế hoạch được chi tiêu vào lĩnh vực hỗ trợ y tế, trợ cấp thất nghiệp và những lĩnh vực không đóng góp gì cho tăng trưởng thị trường việc làm và kinh tế. Số tiền chi tiêu vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng để có thể tạo ra việc làm mới chỉ chiếm chưa đến 10% gói giải cứu kinh tế.

Khoảng 40% người lao động Mỹ tin rằng suy thoái kinh tế sẽ kéo dài thêm một năm nữa và sự bi quan đó hoàn toàn hợp lý. Khi lương giảm, người tiêu dùng hạn chế chi tiêu, kinh tế sẽ không thể sớm thoát khỏi mớ bòng bong hiện tại.

Cách đây một tuần, phó Tổng thống Joe Biden đã đúng khi thừa nhận chính quyền Tổng thống Obama đánh giá quá cao tình trạng nền kinh tế và tác dụng của gói giải cứu. Kế hoạch này có mục tiêu cứu việc làm cho người dân vậy mà cuối cùng lại không thể thực hiện được mục đích đó.

150 tỷ USD dành cho chương trình hỗ trợ y tế không mang lại việc làm mới, hàng trăm tỷ USD dành cho chính sách cắt giảm thuế và phúc lợi cho người nghèo, người thất nghiệp. Hiện nay ngân sách đang thâm hụt trầm trọng khi tỷ lệ thất nghiệp và chi phí y tế ngày một lớn.

Năm tới, tiền ngân sách sẽ xẹp đi vì kế hoạch giải cứu. Nếu không có kế hoạch giải cứu mới, chính phủ sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài cắt giảm chi tiêu, tăng thuế, hoặc áp dụng cả hai biện pháp trên. Chính quyền các bang, đại diện cho khoảng 15% nền kinh tế, đang bắt đầu trải qua thời kỳ suy giảm tệ nhất trong thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới Hai. Thâm hụt ngân sách năm tài khóa 2010 dự kiến lên tới 166 tỷ USD và mức thâm hụt năm tài khóa 2011 lên tới 350 tỷ USD.

Các hộ gia đình gặp rất nhiều khó khăn đối với các khoản nợ chồng chất sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn nữa. Tỷ lệ tiết kiệm hiện đã lên tới 7% thu nhập sau thuế từ mức 0% năm 2007 và sẽ tiếp tục tăng. Một đồng USD tiết kiệm đồng nghĩa với đồng USD sẽ không còn được chi tiêu nữa. Tiêu dùng vẫn là động lực chính của nền kinh tế, thay đổi trên đồng nghĩa với tiêu dùng sẽ vẫn ở mức thấp và nhiều doanh nghiệp sẽ không thể có khả năng tuyển dụng nhân công.

Sau thời kỳ suy thoái 1990 – 1991, người tiêu dùng đổ xô mua nhà, xe ô tô và nhiều hàng xa xỉ khác. Lần này, thị truờng việc làm đi xuống, tín dụng thắt chặt, người tiêu dùng không thể còn nguồn tài chính cho các khoản lớn và những người có thể vay tiền hết sức ngại ngần. Người tiêu dùng chỉ còn trông duy nhất vào tiền lương cho các khoản chi tiêu.

Quá trình này còn lâu mới kết thúc và cho đến khi điều đó xảy ra, kinh tế sẽ chỉ dao động trong ngưỡng tăng trưởng trì trệ hoặc không tăng trưởng trong vài năm cho đến khi quá trình cân bằng nợ hoàn tất. Đến khi đó, những khoản lợi nhuận và tiền mặt lớn trong nền kinh tế không còn, các doanh nghiệp sẽ chưa tuyển dụng hay đầu tư vôn dù họ có thừa năng lực sản xuất.

Có lẽ cũng không có gì khó hiểu khi kết quả các cuộc khảo sát niềm tin cho thấy người dân ngày một kém tin tưởng vào gói kích thích kinh tế. Vậy chúng ta đang chờ đợi gói kích thích thứ hai như thế nào? Đó hẳn sẽ là gói kích thích mới mang lại hiệu quả thực sự chứ không phải được gói kích thích bao gồm những chương trình theo ý muốn chủ quan của các nhà hoạch định chính sách kinh tế hàng đầu.



Theo WSJ
Ngọc Diệp

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM