tin mới
X
+
-

Ngân hàng cần bao nhiêu vốn (1): Một tấm đệm và ba lớp lót

Một hệ thống ngân hàng có quá ít vốn rất dễ gây khủng hoảng và sẽ thường xuyên phải xin giải cứu.

Bài viết này nằm trong chuỗi Báo cáo đặc biệt của tạp chí TheEconomist về hệ thống ngân hàng toàn cầu.

Hãy tưởng tượng có một loại bằng lái xe ghi lại đầy đủ “thànhtích” của bạn trên đường. Bạn lái xe an toàn càng lâu thì càng được phép chạynhanh cho đến khi xác suất gây tai nạn được đánh giá là ở mức trung bình, khiấy bạn sẽ luôn di chuyển với tốc độ này.

Hãy hãy tưởng tượng một chiếc xe có phanh tốt hơn nhưng không cótúi khí, hay động cơ máy bay đáng tin cậy hơn nhưng lại ít được bảo dưỡng hơnvà cuối cùng khiến tính an toàn của máy bay hiện giờ chẳng khác gì thập niên50. Mục đích chính của phát minh không phải là hạn chế rủi ro mà là giảm giáchiếc ô tô hay chiếc máy bay đó.

Kiểu tưởng tượng ấy thật ngớ ngẩn, ấy thế mà đó chính là những gìngười ta nghĩ về ổn định tài chính trong suốt không chỉ ba thập kỷ qua và thậmchí còn trong cả thời gian sắp tới.

Vốn để làm gì?

Trọng tâm của cuộc tranh luận“ngân hàng nên an toàn đến đâu” là câu hỏi “nên yêu cầu ngân hàng nắm giữ baonhiêu vốn”.

Một hệ thống ngân hàng có quá ít vốn rất dễ gây khủng hoảng và sẽthường xuyên phải xin giải cứu.

Mặt khác, quá nhiều vốn có thể khiến nhiều bộ phận của ngành ngânhàng thua lỗ, đẩy chi phí tài chính tăng lên và giảm đà tăng trưởng kinh tế (dùkhông ai dám chắc về hai điểm này). Một nguy cơ lớn hơn là tiền và rủi ro cóthể dồn về những bộ phận nhiều nguy hiểm và ít bị điều tiết hơn của nền kinhtế, khiến toàn hệ thống thậm chí còn bất ổn hơn.

VCSH của ngân hàng có rất nhiềutác dụng.

Thứ nhất là hấp thụ thua lỗ, trong đó nó đóng vai trò như một tấmđệm bảo vệ những ai đã tin tưởng giao tiền của mình cho một ngân hàng trước sailầm của những người điều hành và sở hữu ngân hàng đó.

Thứ hai, vốn hạn chế bản chất liều lĩnh của giới ngân hàng bằngcách tăng phần đóng góp của họ. Rõ ràng trước khủng hoảng tài chính, một sốngân hàng đã có quá ít vốn. Royal Bank of Scotland cần gói giải cứu khổng lồkhông phải vì thua lỗ của ngân hàng này quá lớn mà vì vào đầu khủng hoảng “tấmđệm vốn” của họ quá mỏng, chỉ 3,5%.

“Hiện đại” – “hại điện”

Nhờ hai phát minh mà điều này có thể thực hiện được.

Thứ nhất là chính các bộ nguyêntắc. Theo hiệp ước quốc tế gốc vềvốn ký tại Basel năm 1988, ngân hàng phải có VCSH trị giá 8% tổng tài sản. Vìcó một số loại tài sản an toàn hơn, và một số ngân hàng cho vay an toàn hơn nênviệc cho phép ngân hàng tính toán số vốn họ thực sự cần dựa trên xác suất phásản của các khoản vay nghe có vẻ sáng suốt.

Basel 2 năm 2004 công khai cho phép điều đó. Ngân hàng nào cókhách hàng càng khả tín, càng được giữ ít vốn trong khi ngân hàng nào theo đuổicác thương vụ rủi ro hơn sẽ phải có nhiều vốn hơn. Dù vậy, mô hình tài chínhxác định rủi ro của khoản vay khi đem thử nghiệm đã thất bại tuyệt đối vì nóđược xây dựng trên dữ liệu thu thập trong điều kiện kinh tế ổn định một cáchbất thường.

Loại phát minh thứ hai là vềvốn. Trong những năm tiền khủnghoảng, vô số nhà ngân hàng (banker) và luật sư đã cho ra đời các công cụ mới màvới ngân hàng “rẻ” chẳng kém gì chứng khoán nợ (chi phí lãi vay ở nhiều nướcđược khấu trừ thuế trong khi cổ tức thì không), dù vậy vẫn đủ “giống” chứngkhoán vốn để làm hài lòng cơ quan điều tiết.

“Tuần nào cũng có banker hoặc luật sư nào đó tuyên bố mình nghĩ ramột loại công cụ vốn mới,” một quan chức giám sát ngân hàng nói. “Đương nhiênlà họ chỉ đang lách luật mà thôi.”

“Tấm đệm vốn” của Basel 3

Quy tắc mới về vốn, còn gọi là Basel 3, cố giải quyết tất cả nhữngvấn đề trên bằng cách buộc ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu và yêu cầu phần lớntrong số đó phải là vốn đầu tư của chủ sở hữu (tức vốn cổ phần).

Về cơ bản, Basel 3 tăng gấp 3 lần số vốn đầu tư của chủ sở hữu màphần lớn các ngân hàng lớn phải có so với giai đoạn trước khủng hoảng. Tỷ lệ antoàn vốn tối thiểu sẽ tăng từ 8% lên 10,5% trước năm 2019, nhưng nhiều ngânhàng sẽ về đích trước để chứng minh sức mạnh của mình.

Mức điều chỉnh theo Basel 3 này lớn hơn nhiều so với những gìngười ta nghĩ vì ngân hàng phải có 7% dưới dạng vốn đầu tư của chủ sở hữu, thứbản vị vàng của vốn. Những quy định trên cũng khắc phục được các lỗ hổng chophép ngân hàng nắm giữ ít vốn hơn, ví dụ như chuyển tài sản khỏi bảng cân đốikế toán hay phân loại chúng thành tài sản để giao dịch.Số vốn sắp tăng mạnh nênsức chịu đựng thua lỗ của ngân hàng cũng sẽ tốt hơn.

Nhưng “tấm đệm” ấy không rẻ chút nào. Standard & Poors’snghiên cứu 75 ngân hàng lớn nhất thế giới và phát hiện họ sẽ phải huy động thêm763 tỷ đôla vốn cổ phần chỉ để đạt mức vốn tối thiểu. Theo tính toán củaMcKinsey (có cả các tổ chức nhỏ hơn), ngân hàng Châu Âu sẽ cần thêm 1,1 nghìntỷ đôla vốn cổ phần. Ngân hàng Mỹ sẽ phải huy động 870 tỷ đôla.

“Lớp lót” Cocos vàBail-in debt

Nhiều nước đang cân nhắc yêu cầu ngân hàng có thêm “lớp lót” làvốn có thể hoán đổi (convertible capital) và chứng khoán nợ giải cứu khẩn cấp(bail-in debt).

Công cụ vốn có thể hoán đổi, còn gọi là Cocos, là loại đơn giảnhơn. Đó là các trái phiếu tự chuyển đổi thành cổ phiếu khi tỷ lệ an toàn vốncủa ngân hàng xuống quá thấp.

Cho đến nay, cơ quan điều tiết Thụy Sỹ là nhiệt thành nhất với ýtưởng này. Họ đã yêu cầu hai ngân hàng lớn nhất nắm giữ lượng Cocos tới 9% tổngtài sản đã điều chỉnh theo rủi ro (trong số 19% VCSH). Theo họ, Cocos không chỉlà cách rẻ tiền để ngân hàng tăng dự trữ vốn mà còn khiến họ cẩn trọng hơn, vìcổ đông sẽ lỗ nặng do cổ phiếu bị pha loãng khi Cocos chuyển đổi.

Vẫn có một số lo ngại không rõ nhà đầu tư có mua hàng tỷ đôlaCocos sẽ được phát hành hay không, nhưng dù sao thì hồi tháng 2 Credit Suissecũng đã huy động được 8 tỷ đôla theo cách này.

Một nguồn vốn nữa của ngân hàng là từ chuyển đổi một phần chứngkhoán nợ dài hàn thành cổ phiếu, hay “giải cứu bằng chứng khoán nợ” (bail thedebt in). Nó cũng tương tự như Cocos nhưng lý tưởng nhất là áp dụng cho tất cảchứng khoán nợ dài hạn của ngân hàng thay vì chỉ một phần nhỏ, thế nên ắt nócũng sẽ gây nhiều tranh cãi hơn.

Bất ngờ là nhà đầu tư trái phiếu nhìn chung thích mua trái phiếucó thể bị “bail in” hơn Cocos. Theo cách nhìn của họ, “bail-in debt” chỉ chuyểnđổi khi ngân hàng thực sự phá sản và khi ấy thì đằng nào họ cũng lỗ, chứ khôngphải là khi ngân hàng mới “hấp hối”. Nhưng dù có chuyển sang dùng công cụ nàothì cũng phải mất nhiều năm và chúng còn phải chứng minh được ưu điểm của mìnhtrong một cuộc khủng hoảng nữa.

Minh Tuấn

Economist

  Xem theo ngày : 
VCCorp Copyright 2007 - Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VCCorp).
Tầng 16,17,18 - Toà nhà VTC online
Số 18 Tam Trinh, HBT, Hà Nội
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên internet số 1084/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 16 tháng 4 năm 2014.
Ban biên tập CafeF, Tầng 21, tòa nhà Center Building.
Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội.
Điện thoại: 04 7309 5555 Máy lẻ 41292. Fax: 04-39744082
Email: info@cafef.vn
Ghi rõ nguồn "CafeF" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
 
Liên hệ quảng cáo: Ms. Hương
Mobile: 0934 252 233
Email: doanhnghiep@admicro.vn
Hỗ trợ & CSKH : Ms. Thơm
Mobile: 01268 269 779
 
Thỏa thuận chia sẻ nội dung