TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ngân hàng nhỏ không hẳn đã an toàn

02-08-2009 - 09:31 AM | Tài chính quốc tế

Ngân hàng nhỏ không hẳn đã an toàn

Không nên chia tách các định chế tài chính lớn, ngân hàng nhỏ không những không giảm thiểu rủi ro mà cũng không giúp hệ thống tài chính thêm ổn định.

Người viết là CEO của Deutsche Bank và Chủ tịch của Viện Tài chính Quốc tế.

Hai năm ròng khủng hoảng, hậu quả dài hạn đối với hệ thống tài chính toàn cầu ngày càng trở nên rõ ràng hơn.

Ngành tài chính cũng như các chính trị gia cần đảm bảo rằng những tổ chức kém cỏi, công cụ vô tác dụng và thông lệ sai trái sẽ không bị tái lập.

Cân nhắc kỹ tác động tổng hợp của nhiều lời đề xuất cải tổ cũng quan trọng không kém. Việc áp dụng nhiều thay đổi sẽ đòi hỏi vốn cao hơn, và nên tính toán thận trọng giữa sự ổn định và khả năng huy động vốn cho tăng trưởng toàn cầu của hệ thống tài chính.

Duy trì một cách tiếp cận hài hòa ở tầm quốc tế cũng là vấn đề sống còn. Môi trường pháp lý thay đổi, dù vô tình hay hữu ý, đều có nguy cơ làm biến dạng thị trường.

Có thể hiểu được chính phủ cũng như các cơ quan điều tiết cấp quốc gia do bị chỉ trích gay gắt sau vụ sụp đổ của ngành ngân hàng nên đang cố hạn chế tối đa rủi ro chính trị đối với mình.

Nhưng những đề xuất kiểu như  tách các định chế tài chính lớn có quy mô  quốc tế thành các công ty cấp quốc gia và được tổ chức như các đơn vị độc lập không phải là thứ thế giới cần.

Thực tế, một cơ cấu như  thế tăng cường chứ không hề giảm thiểu rủi ro đối với hệ thống tài chính, vì nó  có thể tạo ra những cái bẫy thanh khoản và  vốn. Ngân hàng không thể quản lý rủi ro, vốn và thanh khoản nếu không dựa trên một nền tảng chung.

Trong điều kiện bình thường, phân bổ vốn trong nền kinh tế sẽ thiếu hiệu quả, còn khi thị trường căng thẳng, sẽ rất khó để phản ứng kịp thời và chính xác. Triển vọng tăng trưởng của các quốc gia nhỏ có nền tảng tiền gửi thấp cũng bị đe dọa.

Do đó, không nên tìm kiếm sự an toàn ở cơ cấu theo đơn vị quốc gia, mà thay vào đó, tổ chức ra một chu trình quản trị khủng hoảng xuyên biên giới hiệu quả.

Không phải sự tồn tại của các định chế tài chính toàn cầu mà chính việc thiếu một sự hợp tác quốc tế trong đương đầu với khủng hoảng đang tạo ra những chi phí không cần thiết cho xã hội. Do đó, cần thảo ra những kế hoạch can thiệp cương quyết trên toàn cầu đối với các định chế tài chính phức tạp.

Ngoài nguy cơ bóp méo thị  trường, vấn đề kích thước ngân hàng cũng gây tranh luận căng thẳng. Một học thuyết mới đang tạo được nhiều ảnh hưởng: nếu ngân hàng quá lớn để đổ vỡ, thì nó cũng quá lớn để có thể chia nhỏ.

Cùng suy nghĩ đó, Ngân hàng quốc gia Thụy Sỹ (SNB) là cơ quan đầu tiên công khai cho rằng tỷ số đòn cân nợ trên 20 lúc bình thường là “thiếu thận trọng và không mong muốn”. Không nghi ngờ gì nữa, đòn cân nợ khủng khiếp của một số định chế đã làm cuộc khủng hoảng này thêm tồi tệ.

Kể cả như vậy, có vẻ như cuộc tranh luận về kích thước ngân hàng đang chuyển khỏi trọng tâm ban đầu: không phải kích thước mà chính sự liên kết giữa các ngân hàng mới là vấn đề.

Cả Lehman Brothers lẫn Hypo Real Estate đều không lớn, nhưng chính sự liên kết với phần còn lại của hệ thống tài chính mới khiến sự sụp đổ của hai công ty này trở thành một vấn đề lớn.

Vì thế cái cần tìm kiếm không phải là hạn chế kích thước ngân hàng mà  là một cơ chế để giảm sự liên kết giữa chúng.

Công bằng mà nói, cách tiếp cận này, thay vì một mức đòn cân nợ trần, mới là giải pháp tốt nhất mà SNB gợi ý: các ngân hàng lớn nên dự trữ một số vốn và thanh khoản an toàn tương ứng với rủi ro mà nó tạo ra cho toàn hệ thống, và quan trọng nhất là, cơ cấu tổ chức cũng như thị trường của các ngân hàng lớn cần được thay đổi để có thể ngừng hoạt động một cách từ từ mà không gây ra khủng hoảng.

Cấu trúc này không tạo ra một  “điểm phá sản” cấp quốc gia cho ngân hàng.

Thay vào đó, vấn đề cốt lõi ở đây là tổ chức thị  trường để nó có thể cách ly khỏi sự  sụp đổ của bất kỳ một thành viên cụ  thể nào, đặc biệt là các định chế có tầm quan trọng với toàn hệ thống. Hệ thống dựa vào một đối tác trung tâm chẳng hạn.

Cũng nên giúp các bộ phận như hệ thống thanh toán tránh được phá sản, để nếu tập đoàn mẹ có mất khả năng thanh toán thì cũng không tác động đến chúng.

Điều đó không đồng nghĩa với việc chúng sẽ hoạt động như các doanh nghiệp công ích, mà là được tổ chức để tránh những ảnh hưởng lan tỏa tiêu cực từ các phân khúc thị trường khác tới hạ tầng thiết yếu của hệ thống tài chính.

Thế giới cũng yên tâm phần nào khi chứng kiến những nỗ lực chưa từng có của cả chính quyền lẫn ngành tài chính để đối phó với cuộc khủng hoảng và thảo ra các biện pháp chung giúp hệ thống tài chính vững mạnh hơn.

Cho đến nay, thế giới đã tránh được những biện pháp mang tính dân tộc. Thái độ này cho thấy toàn cầu hóa vẫn còn đầy thuyết phục, và với một cơ sở pháp lý tương xứng, nó sẽ mang lại lợi ích cho mọi nền kinh tế.

Các bằng chứng từ trước cuộc khủng hoảng này cho thấy, quá trình hội nhập giúp thế giới tận dụng các nguồn lực tài chính chống đói nghèo cũng như thúc đẩy tăng trưởng, luân chuyển nhanh tài sản tài chính và phân tán rủi ro.

Cũng cần tái khẳng định rằng ngân hàng lớn có ích cho từng công ty cũng như  toàn nền kinh tế. Họ tài trợ, bảo hiểm rủi ro cho các công ty họat động trên toàn cầu. Họ có khả năng tài trợ, sắp xếp và giải quyết các thỏa thuận lớn và phức tạp.

Hơn nữa, ngân hàng lớn có  thể chịu đựng được chi phí đầu tư  ngày càng đắt đỏ cho công nghệ thông tin, quản trị  rủi ro và cơ sở hạ tầng thị trường, những thứ đều giúp thị trường thêm ổn định. Phải luôn ghi nhớ điều đó nếu muốn hệ thống tài chính toàn cầu bền vững hơn.

 

Theo FT
Minh Tuấn

 

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên