TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ngân hàng toàn cầu trước "cơn gió ngược"

23-02-2014 - 23:14 PM | Tài chính quốc tế

Ngân hàng toàn cầu trước "cơn gió ngược"

Để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng khác, Fed làm thị trường tài chính toàn cầu trở nên rời rác hơn.

Tính chất kinh tế của hệ thống ngân hàng quốc tế là rất rõ ràng: huy động vốn ở các nước có nguồn vốn giá rẻ và cho vay ở nơi nào có giá đắt. Hoạt động này vừa sinh lời cho các ngân hàng, vừa có ích cho thế giới bằng cách hướng nguồn tiền tiền kiệm đến những mục đích sử dụng sinh lợi nhiều nhất.

Tuy nhiên, quy tắc này bắt đầu trở nên rời rạc cách đây 5 năm, đầu tiên là bởi có quá nhiều nhân viên ngân hàng đi tìm kiếm lợi nhuận và giờ đây là bởi các nhà quản lý. Ngày 18/2, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã bỏ phiếu nhất trí áp đặt “hàng rào khoanh vùng” (ring – fence) lên các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Mỹ. Theo đó, các ngân hàng này buộc phải đáp ứng những tiêu chuẩn cơ bản và vốn và thanh khoản giống hệt với các ngân hàng Mỹ thay vì dựa vào hỗ trợ từ ngân hàng mẹ như trước đây. 

Fed cho rằng đây là bước quan trọng để bảo vệ nước Mỹ khỏi hiệu ứng lan tỏa của khủng hoảng tài chính vốn bùng nổ mạnh mẽ kể từ năm 2008. Trước đây, Fed cho phép các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài nhận hỗ trợ từ ngân hàng mẹ, miễn là các ngân hàng mẹ được quản lý bởi các nhà quản lý ở nước sở tại. Tuy nhiên, trong suốt 20 năm qua, các ngân hàng ngoại ở Mỹ ngày càng trở nên tập trung hơn, được kết nối toàn cầu và ngày càng tận dụng được nhiều lợi thế từ quy định lỏng lẻo. 

Cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến những lỗ hổng của mô hình này bộc lộ. Khi thị trường vốn đóng băng, các ngân hàng ngoại là bộ phận bị ảnh hưởng nhiều nhất. Họ chiếm hơn một nửa các khoản vay khẩn cấp mà Fed tung ra qua cửa sổ chiết khấu cuối năm 2008. Trong khi đó, hậu quả lan tỏa trên khắp thế giới. Khi một ngân hàng ở Iceland sụp đổ, chính phủ Iceland chỉ bảo vệ những người gửi tiền trong nước, những khách hàng ở Anh và Hà Lan phải nhận cứu trợ từ chính phủ Anh và Hà Lan.

Được thông qua năm 2010, đạo luật Dodd-Frank yêu cầu các công ty mẹ của ngân hàng ngoại phải đáp ứng được các yêu cầu về vốn giống với các ngân hàng Mỹ. Barclays và Deutsche Bank phản ứng lại quy định này bằng cách tách hoạt động ở Mỹ ra khỏi công ty mẹ và đưa chúng đến những tổ chức ít bị quản lý hơn.

Quy định mới của Fed đã bịt kín lỗ hổng này. Các chi nhánh ở Mỹ giờ đây phải đáp ứng yêu cầu về vốn, thanh khoản và đòn bầy giống hệt các ngân hàng Mỹ. Họ cũng phải nộp kế hoạch vốn cho Fed, miêu tả khả năng đáp ứng yêu cầu về vốn tối thiểu. Hiện tại thì quy định này chỉ áp dụng với các ngân hàng có tài sản ở Mỹ vượt quá 50 tỷ USD (cao hơn nhiều so với mức 10 tỷ USD đề nghị ban đầu). Tháng 7/2016 (chứ không phải tháng 7/2015) mới là thời điểm tất cả các ngân hàng phải tuân thủ quy định. 

Động thái của Fed sẽ khiến nền tài chính toàn cầu bị chia rẽ sâu sắc hơn. Hoạt động cho vay xuyên biên giới đã giảm từ 5.800 tỷ USD trong năm 2007 xuống chỉ còn 323 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2013, theo số liệu thống kê của McKinsey. Tất nhiên các lực đẩy của điều kiện kinh tế và kinh doanh cũng là nguyên nhân dẫn đến xu hướng này, những động thái của các nhà quản lý là nguyên nhân lớn hơn. Ví dụ, các nhà quản lý châu Âu mới đây đã buộc các ngân hàng ngoại chuyển đổi mô hình chi nhánh sang công ty con có nguồn vốn độc lập đồng thời cấm các chi nhánh địa phương không được chuyển vốn về cho ngân hàng mẹ. 

Bằng cách “nhốt” vốn và thanh khoản ở cấp địa phương, luật lệ mới của Mỹ khiến một ngân hàng toàn cầu không thể chuyển tiền đến địa điểm mà tại đó vốn sinh lợi nhiều nhất. Lợi ích của mô hình toàn cầu cũng vì thế mà biến mất. Theo Luigi De Ghenghi – chuyên gia đến từ hãng luật Davis Polk, các đợt kiểm tra an toàn vốn sẽ khiến nhiều ngân hàng ngoại phải tích trữ vốn và thanh khoản nhiều hơn mức cần thiết và rất khó để chuyển lượng vốn dư thừa ra ngoài nước Mỹ. 

Fed thừa nhận có khoảng 15 – 20 ngân hàng ngoại sẽ phải lập công mẹ để đáp ứng luật mới. Theo Huw Van Steenis đến từ Morgan Stanley, cấu trúc sở hữu của BNP Paribas và HSBC (hai ngân hàng ngoại lớn nhất) và Credit Suisse vốn đã đáp ứng được yêu cầu này. Trong khi đó, Deutsche Bank, Barclays và  Royal Bank of Scotland sẽ có nhiều việc để làm. Deutsche có thể sẽ giảm quy mô bảng cân đối kế toán ở Mỹ đi khoảng 100 tỷ USD nhưng vẫn phải giữ lại 1 – 2 tỷ USD vốn bổ sung. Đi kèm với đó là bị mất thị phần trong hoạt động giao dịch trái phiếu vào tay các đối thủ Mỹ. 

Fed cũng thừa nhận quy định mới sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tài chính quốc tế, nhưng lại cho rằng lợi ích thu được là xứng đáng. Nếu không làm như vậy, điều tệ hơn sẽ là một cuộc khủng hoảng khác khiến dòng chảy vốn trên toàn cầu sụp đổ hoàn toàn. 

Còn đối với các nhà quản lý nước ngoài, họ không chỉ lo lắng về những ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường vốn mà còn đối với sự hợp tác. Khi dự luật được công bố, Đức buộc tội Fed chỉ biết đến bản thân, Pháp cảm thấy rất khó chịu và Thụy Sĩ cho rằng Mỹ thiếu tin tưởng các nước khác. 

Tệ hại hơn, Fed có thể khiến các nước khác cũng đưa ra những chính sách tương tự.

Thu Hương

huongnt

Theo Trí thức trẻ/Economist

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM