TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ngành công nghiệp Mỹ sẽ hồi sinh?

12-01-2013 - 10:59 AM | Tài chính quốc tế

Ngành công nghiệp Mỹ sẽ hồi sinh?

Các nhà sản xuất công nghiệp Mỹ đang thiết lập một bối cảnh mới cho sự phục hưng.

Năm ngoái, Jeff Immelt, Tổng giám đốc của Tập đoàn General Electric, đã tuyên bố rằng việc sản xuất bên ngoài nước Mỹ đã trở nên “lỗi thời”. Khu sản xuất đồ da dụng danh tiếng Appliance Park của GE ở Louisville, Kentucky, đang mở một chuỗi các dây chuyền lắp ráp mới để sản xuất tủ lạnh, máy nước nóng, máy giặt, mang việc làm quay về Mỹ thay vì sản xuất tại Trung Quốc và Mexico. 

Chính phủ của Tổng thống Barack Obama cũng đã thông báo về làn sóng bùng nổ sản xuất trong nước -  “insourcing” này, trong khi Hal Sirkin của Tập đoàn Boston Consulting dự báo về một “sự phục hưng của ngành sản xuất ở Mỹ”. 

Sự phục hưng này thực sự là như thế nào? Theo kinh nghiệm thực tế, ngành sản xuất luôn có sự suy giảm tương đối ổn định ngay cả đối với các nền kinh tế tiên tiến. Giữa năm 1980 và 2010, ngành sản xuất của Đức đã giảm từ 30% của GDP xuống 21%, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, trong khi Nhật Bản giảm từ 27% xuống 19%. Tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp ngoại lệ như đối với Thụy Điển. Sau cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 1992, Thụy Điển đã tăng giá trị sản xuất và đem lại lợi ích cho quốc gia này trong hơn một thập kỷ.

Câu hỏi đặt ra là liệu các điều kiện của Thụy Điển có tồn tại ở Mỹ. Yêu cầu đầu tiên là một loại tiền tệ yếu. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1992, tỷ giá của Thụy Điển đã giảm 27%, theo Ngân hàng Thanh toán quốc tế. Kể từ khi đồng đô la lên đến đỉnh điểm vào năm 2002, nó đã giảm 21%, đủ để tạo ra một sự khác biệt lớn. Năm 2000, mức lương ở Mỹ cao hơn gần 22 lần so với Trung Quốc, tuy nhiên dự báo đến năm 2015 con số này sẽ giảm đến bốn lần.

Ở Thụy Điển, có các yếu tố khác nữa là sự bùng nổ sản xuất. Năm 1995, Thụy Điển gia nhập Liên minh châu Âu EU và nền kinh tế mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Các nhà công nghiệp của quốc gia này phản ứng bằng cách đầu tư gấp đôi cho đào tạo nghề so với các đối thủ khác trong EU và chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ. Kết quả, từ năm 1996 đến 2009, năng suất sản xuất của Thụy Điển tăng 57%, theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD. Ngược lại, ngành công nghiệp của Đức chỉ đạt 17%.

Dù những con số của ngành sản xuất Thụy Điển đã rất ấn tượng, song so với cùng thời kỳ, các nhà sản xuất Mỹ đã tăng năng suất thậm chí còn lớn hơn 69%. Thời điểm đó là khi Mỹ tham gia Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và nền kinh tế Mỹ tạo ra rất nhiều cạnh tranh nội địa. Tuy nhiên, trong trường hợp của Mỹ, thúc đẩy thương mại và cạnh tranh đã được tạo ra bởi những “cú hích” từ công nghệ.

Trong khi đó, các ngành công nghiệp khác như công nghệ khai thác mới đã góp phần giảm giá khí đốt tự nhiên ở Mỹ. Nhưng, như Viện McKinsey Global quan sát gần đây, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng lại thực sự không dễ thu hút thương mại. Nhà máy giấy và nhà máy lọc dầu sẽ được hưởng khí giá rẻ nhưng sản xuất không nhiều.

Một cuộc điều tra hoạt động quản lý của 30.000 cơ sở sản xuất của Mỹ được thực hiện cuối tuần qua. Hai trong số các tác giả, Nick Bloom và John Van Reenen, đã chỉ ra rằng các công ty Mỹ quản lý tốt hơn hơn so với các đối thủ nước ngoài. Một kết luận nổi bật của nghiên cứu là nhà sản xuất Mỹ tiếp tục nhận được đánh giá tốt hơn từ phía khách hàng cũng như đối với sản phẩm. 

Vì vậy, ít nhất giai đoạn này đã có một nửa cơ sở cho sự phục hồi sản xuất của Mỹ. Nhưng sự hồi sinh thực sự có nghĩa là gì? Đó còn là một “phương thuốc” để cứu tình trạng thất nghiệp đang diễn ra ở Mỹ. Kể từ tháng 1 năm 2010, Mỹ chỉ tạo ra hơn nửa triệu việc làm mới nhưng tình trạng thất nghiệp tăng, phản ánh sự sụp đổ trong cuộc khủng hoảng. Đối với một nền kinh tế tiên tiến, để tạo ra việc làm trong ngành sản xuất là rất khó khăn. 

Có thể ngành sản xuất Mỹ sẽ phục hưng nhưng người Mỹ sẽ phải luôn nhớ tới những nhà tiên phong đầu tiên của lĩnh vực sản xuất - đó là Siemens, hãng vận chuyển tubin do Mỹ sản xuất tới Ả-rập Xê-út; đó là Toyota, giúp xuất khẩu các dòng ô tô do Mỹ sản xuất tới 21 quốc gia trên thế giới; và tất nhiên đó là người luôn hướng tới sản xuất trong nước - chủ tịch của GE ông Immelt.

Thủy Tiên

huongnt

FT

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM