TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ngành ngân hàng có tìm lại được hào quang đã mất?

16-05-2008 - 16:34 PM | Tài chính quốc tế

Ngành ngân hàng có tìm lại được hào quang đã mất?

Trong cơn khủng hoảng tín dụng, ngành ngân hàng đang hết sức chật vật. Tuy nhiên còn nhiều lý do để lạc quan vào tương lai của ngành.

Ngành ngân hàng thế giới phát triển bùng nổ trong 25 năm qua. Lĩnh vực dịch vụ tài chính đóng góp 40% lợi nhuận doanh nghiệp năm 2007 so với chỉ 10% vào đầu thập niên 80. Thành tích đạt được như trên thật đáng kể.

Theo McKinsey, công ty tư vấn toàn cầu hàng đầu của Mỹ, lợi nhuận của các ngân hàng Mỹ năm 2006 nhiều hơn lợi nhuận của ngành bán lẻ, ngành dược phẩm và ô tô thế giới cộng lại. Nhưng nay thời kỳ tốt đẹp đó đã qua.

Lợi nhuận cố định sẽ tiếp tục giảm trong một khoảng thời gian nữa, đặc biệt các ngân hàng đầu tư sẽ nhận thấy điều này rõ nhất. Tuy nhiên vẫn còn nhiều lý do để lạc quan về tuơng lai của ngành ngân hàng.

Lý do đầu tiên nằm chính trong kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Ngay cả khi hiện nay những tổ chức ngân hàng phương Tây hết sức vất vả do thua lỗ trong lĩnh vực tín dụng, những hoạt động khác của ngân hàng họ vẫn hoạt động tốt.

Một điểm đáng chú ý là lợi nhuận từ thị trường mới nổi ngày càng đóng góp phần quan trọng vào doanh thu của các ngân hàng. Những ngân hàng chịu tác động nặng nề nhất từ khủng hoảng tín dụng toàn cầu cũng gặt hái không ít thành công với thị trường này.

Nhu cầu từ các nước đang phát triển sẽ vẫn là động lực phát triển chính của ngành ngân hàng thế giới trong thời gian tới.
 
Lý do thứ hai là nhân khẩu học. Mọi người đều biết rằng dân số nhiều nước đang già đi. Tuy nhiên thông tin này cũng hết sức có lợi bởi theo một công ty bảo hiểm lớn trên thế giới, khoảng một nửa những người ở độ tuổi hơn 30 tại Anh có thể sống đến 100 tuổi. Như vậy tuơng lai cho những công ty cung cấp dịch vụ tài chính cho người về hưu sẽ có tiềm năng phát triển tốt.

Lý do thứ ba sẽ giúp ngành ngân hàng tăng trưởng là chính sự tăng trưởng. Những nghiên cứu từ Morgan Stanley và Oliver Wyman cho thấy tăng trưởng trong lĩnh vực đầu tư ngân hàng có liên hệ trực tiếp với tăng trưởng GDP và cổ phiếu. Nếu thế giới tiếp tục tăng trưởng ở một mức độ tương đối, các ngân hàng sẽ hết sức có lợi.

Những ngân hàng đầu tư có lịch sử chịu rủi ro ít hơn các loại ngân hàng khác và khả năng hồi phục từ khủng hoảng tốt hơn. Lý do khác để lạc quan chính là một trong những bài học của chính sách thắt chặt tín dụng.
 
Một số người cho rằng ngân hàng đã mất đi chức năng chính của mình bởi những người vay tiền có thể không cần đến họ và tìm đến vay tiền ở các nguồn khác. Khủng hoảng đã mang đến cho chúng ta một thông điệp mới: phân tích tín dụng đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với hệ thống tài chính.

Không một ai có thể phủ nhận rằng con đường phía trước đối với ngành ngân hàng còn rất nhiều chông gai. Nguồn vốn tại nhiều ngân hàng cần phải được cân bằng lại.

Để thay đổi hoạt động ngân hàng làm sao cho thích ứng với điều kiện mới tất nhiên không phải điều dễ làm. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau sẽ ngày càng nhiều và tốn kém hơn.

Vậy nếu chi phí cho vay của các ngân hàng tăng lên, lợi nhuận của họ sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? Một số chi phí sẽ được chuyển sang phía khách hàng coi như một cách chia sẻ rủi ro.

Ở môi trường có tính cạnh tranh cao hơn, việc chuyển chi phí sang phía khách hàng sẽ khó khăn hơn. Trong lĩnh vực đầu tư ngân hàng, chi phí tăng cao có thể dẫn tới sự giảm đi một số loại hình dịch vụ nhất định hoặc là việc cắt giảm nhân công, giảm lương nhân viên.

Dù phản ứng của các nhà hoạch định chính sách đối với khủng hoảng tín dụng hiện nay như thế nào, có một số vốn dồi dào ít nhất sẽ là nền tảng đảm bảo cho hoạt động hiệu quả của ngân hàng trong một thời gian nhất định. Yêu cầu bức thiết đối với những ngân hàng sụt giảm vốn mạnh trong thời gian khó khăn vừa qua là tăng vốn ngay lập tức để hồi phục hoạt động.

Phản ứng của ngành ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng thường gây ra một số vấn đề. Như lần khủng hoảng gần nhất, chính sách tiền tệ kém, khủng hoảng tại các nước mới nổi đã dẫn tới việc bùng nổ lợi nhuận tại các nước phát triển. Bài học của khủng hoảng này là các ngân hàng nhỏ nên xem xét cẩn trọng sự đi xuống của những ngân hàng toàn cầu và ngân hàng lớn hơn.

Rõ ràng những ngân hàng lớn với hoạt động phức tạp hơn khó quản lý hơn các ngân hàng bình thường rất nhiều. Ngân hàng toàn cầu với bảng cân đối tài chính lớn sẽ không nắm được thật thấu đáo thông tin về lĩnh vực tín dụng với quy mô quá rộng và hoạt động tại nhiều nước khác nhau.

Mặt tốt của sự hỗn loạn hiện nay là một hệ thống phòng ngừa rủi ro tốt hơn sẽ được áp dụng, hệ thống chứng khoán hóa minh bạch hơn. Yếu tố tích cực khác có thể kể đến là những yêu cầu thanh khoản và vốn chặt chẽ hơn đối với những rủi ro trong quy trình hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên ngay cả khi đó, những thay đổi mới sẽ không phải là giải pháp toàn diện đối với mọi vấn đề của ngành ngân hàng.

Ngọc Diệp
Theo Economist

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên