TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nhật cần cân bằng lại nền kinh tế

20-08-2009 - 15:38 PM | Tài chính quốc tế

Nhật cần cân bằng lại nền kinh tế

Việc Nhật không cân bằng được nền kinh tế tạo ra nhiều bất lợi cho thế giới và gây ra ảnh hưởng xấu đối với chính người Nhật.

Không người dân nào trên thế giới nghỉ ít ngày hơn người Nhật. Điều này có lẽ không gây ngạc nhiên. Tuần này, trong khi hàng triệu người rời thành phố trong chuyến hành hương về tạ lễ tỗ tiên ở những ngôi làng xa, vẫn còn hàng triệu người khác đang mắc kẹt trong những đám tắc đường trên nhiều xa lộ giữa cái nóng gay gắt.

Điều đó là bình thường trong thời điểm lễ hội Obon đã nhiều năm nay, thế nhưng mọi chuyện năm nay tệ hại hơn. Để ứng phó với khủng hoảng kinh tế, chính phủ đưa ra biện pháp khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu tiền vào dịch vụ khách sạn, ăn uống và nhiều hình thức giải trí khác. Chính phủ đã hạ chi phí cầu đường xuống dưới mức bình thường, vì thế ngày một nhiều người đổ xô ra đường.

Đây không phải lần đầu tiên lãnh đạo Nhật cố gắng nhấn mạnh đến mặt tích cực của cuộc sống đối với người dân Nhật để cố gắng củng cố nền kinh tế, giúp kinh tế Nhật bớt chịu ảnh hưởng từ sự suy giảm của thương mại toàn cầu. Năm 1986, khi thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật là yếu tố chính gây căng thẳng với Mỹ, chính phủ Nhật đã khuyến khích người dân nghỉ ngơi nhiều hơn để họ chi tiêu.

Điều này trên thực tế đã không xảy ra. Thay vào đó, những gì Nhật mang đến cho thế giới vào cuối thập niên 1980 là bài học cho thấy sự khó khăn trong việc cân bằng nền kinh tế. Nhật xoa dịu người Mỹ và sau đó nâng giá đồng yên. Tuy nhiên khi USD rớt giá, Nhật làm ngược lại và hạ lãi suất, điều này khiến chi tiêu vào mọi loại hình từ golf cho đến mua sắm những căn nhà xa xỉ tại khu Manhattan tăng cao. Tín dụng dồi dào gây ra bong bóng trên thị trường chứng khoán và bất động sản, bong bóng để lại hậu quả tệ hại trong thập niên 1990 và cả thời gian sau.

Đến thập kỷ này, thặng dư thương mại Nhật cao hơn bao giờ hết và lên mức 4,8% GDP vào năm 2007. Nguyên nhân là bởi ảnh hưởng của thương mại lên tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật lớn hơn so với bất kỳ nền kinh tế nào khác. Trong thập niên bắt đầu từ năm 1992, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm là 4%, đến năm 2002 cho đến năm 2007, tăng trưởng xuất khẩu hàng năm là 10%.

Số liệu từ OECD cho thấy trong những năm 2002 đến năm 2007, đóng góp của ngoại thương vào tăng trưởng GDP của Nhật cũng bằng với Đức. Lợi nhuận từ xuất khẩu xe Lexus, trò chơi trực tuyến, tivi màn hình phẳng sang châu Âu trong thời kỳ tín dụng dễ dãi được rót ngược lại để xây dựng nhà máy, đầu tư công nghệ mới giúp phát triển kinh tế. Theo tính toán của OECD, trước khủng hoảng, các ngành xuất khẩu đóng góp đến 1/3 tổng sản lượng kinh tế.

Suốt 3 thập kỷ qua, Nhật luôn có thặng dư tài khoản vãng lai dù đồng yên mạnh hay yếu, điều này cho thấy sự mất cân bằng có nguyên nhân từ cấu trúc chứ không phải chu kỳ. Báo cáo mới nhất từ Morgan Stanley cho thấy trong suốt thời kỳ bong bóng hình thành và vỡ đầu thập niên 1980, đầu tư liên tục giảm. Tỷ lệ tiết kiệm trong khoảng thời gian từ thập niên 1990 đến 2007 cũng giảm từ mức 10% xuống 2,2%.

Sự kết hợp của nhiều yếu tố trên khiến nhu cầu nội địa không tăng. Xuất khẩu của Nhật dù có tăng nhưng người làm công Nhật không có lợi như trước đây, nhóm OECD cho biết tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu vào GDP giảm từ mức 73% vào năm 1999 xuống mức 65% vào năm 1997. Cấu trúc nhân khẩu học của Nhật với nhóm dân số già ngày một lớn, lực lượng lao động ngày một thu hẹp, áp lực lương giảm ngày một cao. 

Ngày một nhiều lao động già được trả lương cao bị thay thế bởi người trẻ chấp nhận mức lương thấp, mặt bằng lương chung vì thế giảm xuống. Người về hưu không thể chi tiêu thoải mái bởi họ không chắc chắn chế độ lương thưởng của chính phủ sẽ ra sao.

Khoảng cách về lợi nhuận giữa các tập đoàn lớn và công ty nhỏ của Nhật cũng rất khác nhau. Tính toán của IMF cho thấy nhóm công ty nhỏ vẫn đang khó khăn bởi chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng nợ thập niên 1990 tại Nhật. Dù nhóm doanh nghiệp này mang đến 70% việc làm cho người Nhật, lợi nhuận của họ không đủ để có thể tăng lương.

Ngay trong nội tại ngành sản xuất Nhật cũng tồn tại hố sâu ngăn cách giữa những người lao động được trả lương, thưởng cao và có đảm bảo tốt về triển vọng việc làm với những người lao động không thường xuyên. 

Trước khủng hoảng, nhóm lao động không thường xuyên phát triển lên tới 1/3 lực lượng lao động bởi các công ty cố gắng tìm nguồn nhân lực linh động hơn để ứng phó với sự cạnh tranh từ những đối thủ châu Á khác nổi tiếng với nhân công giá rẻ. Áp lực lương tăng cao này đồng nghĩa với 5 năm tăng trưởng ấn tượng trước khủng hoảng của Nhật không tạo ra khác biệt nào đối với mức lương trung bình. 

Trong khoảng thời gian 5 năm tính đến năm 2007, tiêu dùng cá nhân tăng trưởng 1,1%/năm, tốc độ tương đương thời kỳ thập kỷ mất mát thập niên 1990. Mức này cao hơn so với Đức, tuy nhiên thấp hơn rất nhiều so với Mỹ khi tiêu dùng tăng trưởng với tốc độ gấp 3 lần.

Lý giải cho việc kinh tế Nhật thiếu cân bằng

Tại sao kinh tế Nhật lại thiếu cân bằng đến như vậy? Lý giải cho việc tại sao Nhật lại xuất khẩu nhiều đến như vậy bao gồm sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ đối với thương mại và các ngành nghề (mối liên hệ giữa doanh nghiệp lớn, đảng cầm quyền và các bên dân sự được biết đến như một tam giác thép), doanh nghiệp Nhật vì thế có thể sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Nhật đánh giá cao việc chăm chỉ lao động vì thế con người ta sẽ muốn vùi đầu bên bàn giấy hơn là tiêu tiền hưởng thụ tại các cửa hàng hay đi nghỉ. Nguyên nhân khác chính là người Nhật muốn tiết kiệm tiền để xây lại nhà sau mỗi khoảng thời gian 15 năm. Họ làm vậy bởi lâu nay Nhật vốn là đất nước của động đất và hỏa hoạn. Muốn làm những việc lớn như vậy, người Nhật khó có thể chi tiêu phóng khoáng như người Mỹ.

Người Nhật cũng rất ngại vay tiền. Người tiêu dùng hiếm khi chuyển nợ thẻ tín dụng từ thẻ này sang thẻ khác. Nhiều doanh nghiệp nhỏ vẫn đang trả nợ từ khủng hoảng trước, các ngân hàng ngại cho vay bởi lo lắng về cuộc khủng hoảng hiện tại. Chuyên gia kinh tế trưởng Katsuyuki Hasegawa thuộc viện nghiên cứu Mizuho cho rằng văn hóa không thích liên quan đến nợ nần đã “ăn sâu bám rễ”: “Người ta không thích vay tiền mà chỉ thích trả tiền thôi.”

Khủng hoảng bắt đầu ảnh hưởng đến Nhật từ năm 2008 và theo tính toán của các chuyên gia sẽ khiến GDP Nhật năm 2009 giảm 5%, điều này chỉ khiến người ta ngày một thận trọng hơn. Xuất khẩu sụp đổ, Toyota và một số hãng xe lớn gấp rút chuyển dây chuyền sản xuất sang thị trường nội địa. Lợi nhuận giảm đồng nghĩa đầu tư doanh nghiệp giảm. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ mức 3,8% vào tháng 10/2007 lên mức 5,4% vào tháng 6/2009. Tỷ lệ thất nghệp dù không cao như Mỹ hay châu Âu nhưng đi kèm với đó là mức lương giảm mạnh. 

Chính phủ Nhật đã đưa ra kế hoạch kích thích tài khóa với quy mô lớn nhất trong nhóm nước giàu. Hy vọng đang được đặt vào việc xuất khẩu sang Trung Quốc hồi phục. 
Thế nhưng trong dài hạn, việc tái cân bằng nền kinh tế là cách tốt nhất để đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao hơn. Điều này hết sức quan trọng bởi tỷ lệ nợ công/GDP của Nhật cao nhất so với các nước giàu và lên tới 180% GDP, hậu quả tất yếu của nhiều năm chính phủ phải chi tiền để cứu nền kinh tế đang hết sức khó khăn.

Nợ sẽ tiếp tục tăng cao khi chi tiêu cho nhóm dân số già tăng cao, khủng hoảng tài khóa không thể tránh khỏi. Cho đến nay lợi tức trái phiếu Nhật tăng chậm hơn so với Mỹ và Anh, nguyên nhân chính là bởi bên mua nợ chủ yếu là nội địa. IMF cảnh báo Nhật sẽ “lãnh đủ” nếu lòng tin vào nợ công sụt giảm.

Chính phủ Nhật cuối cùng cũng sẽ phải tăng thuế để giảm bớt số nợ. Thế nhưng cách tốt nhất để đảm bảo điều này là cân bằng lại nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng. Nhóm ngành bán lẻ, xây dựng...hoạt động thiếu hiệu quả đến mức đã kéo lùi tăng trưởng năng suất lao động từ mức 4% ở thời kỳ đỉnh cao 1976-1989 xuống mức 2% trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2004.

Tính toán từ chính phủ cho thấy lực lượng lao động có thể giảm 9% trong thập kỷ tới, vấn đề tăng năng suất lao động sẽ còn căng thẳng hơn. Mục tiêu này nếu muốn khả thi sẽ buộc một số người lao động mất việc. Thế nhưng cuối cùng ngành dịch vụ sẽ hưởng lợi và mức lương của người lao động trong ngành sẽ tăng. Nếu không có thay đổi nào được đưa ra, mức sống chung sẽ đi xuống.

Cách tốt nhất để nâng cao năng suất lao động sẽ là bỏ bớt những quy định đang ràng buộc ngành dịch vụ, bảo vệ họ khỏi những sự cạnh tranh nhân danh kiểm tra chất lượng. Chính phủ nên đưa ra thêm nhiều chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài cũng như nội địa.



Theo Economist
Ngọc Diệp

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên