TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nhật sẽ trải qua khủng hoảng kiểu Hy Lạp?

26-04-2010 - 15:45 PM | Tài chính quốc tế

Nhật sẽ trải qua khủng hoảng kiểu Hy Lạp?

Nhật cuối cùng sẽ phải chịu thảm họa nếu không giải quyết được vấn đề nợ và giảm phát.

Nếu Trung Quốc là công xưởng của thế giới, Nhật chính là phòng nghiên cứu tinh vi đằng sau đó. Có thể thấy dù Trung Quốc đi đầu đà phục hồi của thương mại toàn cầu, nhưng những sản phẩm từ Nhật vào Trung Quốc cũng ngày một nhiều.

Không nói đến những sản phẩm máy ảnh số và sản phẩm công nghệ khác, xuất khẩu từ Nhật sang Trung Quốc đang hồi sinh nhờ những mặt hàng với doanh số bán tăng mạnh như vật liệu nhựa (cao hơn 105% so với cùng kỳ), khoáng sản phi kim (tăng 113%), máy xây dựng (tăng 152%), máy dệt (tăng 171%), phụ tùng (tăng 144%).

Hiện nay, lượng hàng công nghệ cao và có giá trị cao trong dây chuyền cung cấp vào các nhà máy tại Đông Á lên thế giới tăng. Nguồn tài chính công tại Trung Quốc đã đẩy tăng trưởng kinh tế nước này lên mức cao, các công ty khôi phục lại hàng tồn kho, như vậy việc các công ty xuất khẩu Nhật bắt đầu hưởng lợi sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Tốc độ phục hồi của kinh tế Nhật đã khiến nhiều chuyên gia kinh tế ngạc nhiên. Kinh tế Nhật nằm trong nhóm nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ khủng hoảng tài chính toàn cầu. Xuất khẩu sụp đổ đã khiến Đảng Dân chủ Tự do của Nhật (LDP) buộc phải chấm dứt thời kỳ lãnh đạo nước Nhật suốt 5 năm, một phần bởi mối liên hệ với các tập đoàn hàng đầu của Nhật. Quyền lực đứng đầu nước Nhật đã được chuyển sang Đảng Dân chủ Nhật (DPJ), đảng hứa sẽ chấm dứt sự phụ thuộc vào xuất khẩu của kinh tế Nhật và hướng tới xây dựng nền kinh tế cân bằng hơn.

Suy thoái kinh tế Nhật lập đáy trong 3 tháng đầu năm 2009. Theo tính toán của JP Morgan, việc xuất khẩu hồi phục trong 9 tháng vừa qua có thể giúp tăng trưởng kinh tế lên mức 3,1%, cao hơn mức tăng trưởng của Mỹ và khu vực đồng tiền chung châu Âu.

Lợi nhuận doanh nghiệp hồi phục với tốc độ kỷ lục cũng bởi con số lấy ra để so sánh cùng kỳ thời điểm năm ngoái ở mức quá thấp. Tỷ lệ thất nghiệp có chiều hướng đi xuống, trong tháng 1/2010, lần đầu tiên trong 18 tháng mức lương người lao động tăng cao hơn so với cùng kỳ. JP Morgan nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Nhật quý 1/2010 lên mức 3,5% từ mức 1,8%.

GDP Nhật hồi phục trong năm 2010 chỉ bằng ¼ so với mức mà Nhật đã chịu thiệt hại trong khoảng thời gian 12 tháng đầu tiên của khủng hoảng vì thế sẽ còn nhiều việc để làm. Trừ khi tăng trưởng nhu cầu toàn cầu được duy trì, tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc và nội địa. Kế hoạch ngân sách Nhật năm 2010 thông qua ngày 24/03/2010 có kế hoạch hỗ trợ tài chính cho các hộ gia đình và trẻ em dưới 16 tuổi. Xét về nguyên tắc, chính phủ Nhật cần làm tốt việc kích cầu nội địa. Thế nhưng nếu tính đến tình hình tài chính công của Nhật, câu hỏi lớn hiện nay là đà phục hồi liệu có được duy trì.

Đáng tiếc, câu trả lời là không. Nguyên nhân chính bởi việc kinh tế đi lên không thể xóa nhòa đi những vấn đề mà kinh tế Nhật đang đương đầu. Vấn đề bao gồm giảm phát, nợ công cao, cấu trúc nhân khẩu tệ hại và sự thiết quyết đoán của nhóm các nhà lãnh đạo kinh tế hàng đầu. Trừ khi những yếu tố này thay đổi mạnh, nhóm vấn đề này sẽ cản trở tăng trưởng trong nhiều năm tới và tạo ra nhiều hậu quả tệ hại.

Kinh tế Nhật hiện đang vận hành dưới khả năng thực. Mức chênh lệch về sản lượng lên tới 7%, cao gấp 3 lần so với bất kỳ thời điểm nào từ khi bong bóng tài sản tại Nhật vỡ cách đây 20 năm. Mức chênh lệch giữa GDP thực và GDP tiềm năng tương xứng với giảm phát. Chỉ số giá tiêu dùng như vậy có thể tiếp tục giảm. Uy tín của Ngân hàng Trung ương Nhật phụ thuộc vào khả năng chấm dứt giảm phát, ngân hàng này mới đây dự báo giá tiêu dùng sẽ tiếp tục giảm cho đến tháng 3/2012.

Giá giảm đồng nghĩa với GDP danh nghĩa, năm 2009 rơi xuống mức thấp nhất từ năm 1991, sẽ tiếp tục đóng băng. Áp lực từ công luận ngày một lên cao, trong ngân sách năm 2010, tổng lượng tiền vay lên mức 44 nghìn tỷ yên tương đương 468 tỷ USD lần đầu tiên vượt nguồn thu từ thuế 37 nghìn tỷ nhân dân tệ. Tỷ lệ nợ/GDP ở 190%, hiện vốn ở mức cao nhất trong nhóm nền kinh tế phát triển hàng đầu, được dự báo sẽ tiếp tục tăng.

Một số người cho rằng khả năng giảm phát tăng và nợ cao sẽ khiến Nhật phải đương đầu với khủng hoảng kiểu Hy Lạp. Trong báo cáo vào tháng trước, Goldman Sachs cho rằng nhà đầu tư nên chuẩn bị sẵn sàng cho sự đi xuống. Họ đang mua quyền chọn để chuẩn bị cho hai khả năng: lãi suất cơ bản tăng cao trong dài hạn và đồng yên giảm giá khi nhà đầu tư thoái vốn khỏi Nhật.

Một quan chức trong Bộ Tài chính trở về từ hội nghị G7 tại Canada đã thể hiện sự lo lắng về Hy Lạp và Nhật. Thế nhưng ông mới chỉ lo lắng chứ chưa cảm thấy mọi chuyện đến mức báo động. Ông nói: “Đã nhiều năm nay, chúng ta nghe nhiều lời cảnh báo về việc trái phiếu chính phủ Nhật sẽ sụp đổ, điều đó cũng giống như quan điểm đồng USD đến ngày tận thế.” Với mức lợi tức 1,4%, ông cho rằng thị trường hiện vẫn đang hết sức ổn định. Ông tin Nhật vẫn còn có thể tránh được sự sụp đổ tài khóa.

Trong ngắn hạn, có nhiều lý do để chia sẻ sự tự tin của ông. Trong nhiều cuộc khủng hoảng nợ trước đây, nguyên nhân tạo ra sự sụp đổ không phải là mức độ nợ mà là khả năng trả nợ của chính phủ. Trong nghiên cứu gần đây từ IMF, ông Kiichi Tokuoka nhấn mạnh những năm gần đây có mối liên hệ khác thường giữa lợi tức trái phiếu chính phủ và quy mô nợ, thâm hụt của Nhật. Trên thực tế, khi nợ ròng dưới mức 20% GDP vào thập niên 1990, lợi tức trái phiếu ở mức 7%. Khi nợ tăng cao, lợi tức lại giảm.

Có nhiều yếu tố tại Nhật giải thích cho điều này. Lượng tiền tiết kiệm của người Nhật ở mức cao, với bản tính ngại rủi ro, họ tích lũy tới 94% trái phiếu chính phủ. Khoảng hơn một nửa trong số 1.400 tỷ yên tài sản tài chính được nắm giữ dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi (tại Mỹ, con số này chỉ là 14%), một phần tiền lớn được đầu tư vào trái phiếu chính phủ thông qua hệ thống ngân hàng. Tổ chức lớn như ngân hàng Japan Post Bank nắm giữ nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ. Vì thế các công ty Nhật, nhiều trong nhóm công ty có thặng dư tài chính lớn sau khi gặp nhiều khó khăn thời kỳ hậu bong bóng.

Còn nhiều yếu tố khác. Ngay cả khi lãi suất danh nghĩa ở mức thấp, giảm phát vẫn mang đến cho nhà đầu tư mức lợi tức tốt. Vậy tại sao phải đa dạng? Một số tài sản khác, như đất và cổ phiếu, hiện vẫn ở mức thấp nếu so với mức đỉnh trong thời kỳ bong bóng. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài bị cản trở bởi việc đồng yên mạnh. Trái phiếu chính phủ Hy Lạp, ngược lại, hưởng lợi từ thời kỳ tăng trưởng mạnh nhất trong lịch sử. Một số người còn cho rằng lý do giới chức kinh tế Nhật không đưa ra nhiều biện pháp giải quyết tình trạng giảm phát còn là bởi họ lo lắng về hậu quả đối với thị trường trái phiếu nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng cao.

Khủng hoảng nào?

Có lẽ niềm tin chưa có cuộc khủng hoảng nào sắp tới là vấn đề lớn nhất của Nhật. Nếu không có điều đó, sẽ chẳng có điều gì kéo giới chức lãnh đạo kinh tế Nhật khỏi trạng thái tê liệt.

Hãy nói đến giảm phát. Dù trên phương diện nào đi nữa, giảm phát gây ra ảnh hưởng xấu lên tiêu dùng, nợ và đầu tư trong thập kỷ qua. Kỳ vọng giảm phát sẽ còn tệ hại hơn: khoảng 35% người tiêu dùng cho rằng giá không thay đổi hoặc thấp hơn trong 5 năm tới. Bộ trưởng Tài chính Nhật cho rằng Ngân hàng Trung ương Nhật cần giải quyết tận gốc vấn đề giảm phát vì thế Nhật sẽ lại có tăng trưởng GDP danh nghĩa.

Và bởi giá tiêu dùng mới chỉ hạ nhẹ, chưa bao giờ giảm tới 1,4% so với mức độ giảm trầm trọng trong thời kỳ Đại Khủng hoảng 1930, Ngân hàng Trung ương coi vấn đề chỉ ở mức độ vừa phải chứ không phải quá trầm trọng. Một chuyên gia đã chỉ ra, đó là hậu quả của vấn đề lớn chứ không phải chính là vấn đề đó.

Ngân hàng Trung ương cho rằng vấn đề thực tế ở chỗ tăng trưởng năng suất tại Nhật ở mức thấp, lương ở mức thấp, nhu cầu hàng hóa dịch vụ ở mức thấp, nợ công cao.

Sự ngại ngần của Ngân hàng Trung ương Nhật trong việc hành động quá quyết liệt có thể bắt nguồn từ những gì đã diễn ra trước đây. Ngân hàng Trung ương Nhật ám ảnh bởi hậu quả tệ hại nếu hành động sai.

Khi xét đến vấn đề nợ công, Bộ Tài chính Nhật đưa ra quan điểm gây nhiều bất đồng rằng họ không thể làm được gì nhiều cho đến khi Ngân hàng Trung ương Nhật giải quyết được vấn đề giảm phát. Chính Bộ Tài chính Nhật cũng cho rằng mọi chuyện không quá tệ như thế giới bên ngoài nghĩ.

Bộ Tài chính Nhật có lý do để lo lắng. Bộ Tài chính ám ảnh bởi trước đây họ đã từng nâng thuế tiêu thụ trước khi đà phục hồi kinh tế thực sự diễn ra vào năm 2007. Một nỗ lực khác để cải tổ chi tiêu và thuế được đưa ra vào năm 2006, không lâu trước khi bong bóng tín dụng toàn cầu nổ ra, kế hoạch cải tổ trên lập tức bị chặn lại.

Bài học từ Nhật quan trọng với tất cả các nước, đặc biệt là Mỹ, Anh và nhiều nước thuộc châu Âu. Nó cho thấy sau khi khủng hoảng qua đi, tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động thấp, nợ công cao và áp lực giảm phát có thể kéo dài hơn tưởng tượng của bất kỳ ai và các nhà hoạch định chính sách có thể mắc nhiều sai lầm khi cố gắng giải quyết vấn đề còn tồn tại.


Ngọc Diệp
Theo Dân Trí/Economist


ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM