TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nhìn lại 6 năm lãi suất siêu thấp (P2)

13-04-2013 - 16:46 PM | Tài chính quốc tế

Nhìn lại 6 năm lãi suất siêu thấp (P2)

Có thể, máu sẽ không đổ. Tuy nhiên, bong bóng là điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Tài sản rủi ro quay trở lại thời hoàng kim 

Lãi suất ở mức quá thấp góp phần tạo nên bong bóng bởi khi đó nhà đầu tư có thể bỏ qua chi phí tài trợ và tập trung vào thặng dư vốn. Lãi suất thấp cũng khiến người ta quên mất những rủi ro và tập trung quá nhiều vào thành quả. Bong bóng có thể chưa nổi lên, nhưng nhiệm vụ sau cùng là quay trở về chính sách tiền tệ bình thường lại khiến mọi thứ trở nên phức tạp. 

Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, nhà đầu tư vẫn chưa hào hứng với các tài sản rủi ro. Có vẻ như họ vẫn còn bị sốc bởi những tác động tiêu cực mà cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2008 đem lại cho các tài sản an toàn. Dẫu vậy, tâm lý ưa rủi ro đang ngày càng tăng lên.

Điểm mấu chốt không nằm ở việc lãi suất danh nghĩa ở mức thấp mà ở chỗ lãi suất thực đang ở mức âm. Xét đến tỷ lệ nợ/GDP ở nhiều nước cao như hiện nay, ngay cả trái phiếu chính phủ cũng trở thành tài sản không an toàn. Có chuyên gia còn nhận định, thay vì mang lại lợi suất trong khi không có rủi ro, trái phiếu là tài sản chứa nhiều rủi ro trong khi không mang lại lãi suất.  

Do đó, kỳ vọng lãi suất sẽ tiếp tục ở mức gần 0 trong thời gian dài, nhà đầu tư càng ưa thích rủi ro. Trái phiếu công ty là lựa chọn đầu tiên. Theo thống kê của Morningstar, trong năm 2012, nhà đầu tư trên toàn thế giới đã rót tổng cộng 535,2 tỷ USD vào các quỹ trái phiếu (tương đương 95% tổng số tiền đổ vào các quỹ tương hỗ trong năm 2012). Ngược lại, các quỹ chứng khoán bị rút ròng 124,7 tỷ USD. 

Nhu cầu trên khiến chi phí đi vay của các doanh nghiệp giảm xuống. Theo Standard & Poor’s, lợi suất của nhóm trái phiếu rác đã giảm một nửa, từ 12% xuống chỉ còn 6% trong năm 2012. Các công ty có xếp hạng tín nhiệm ở mức rác cũng có thể đi vay với lãi suất thấp hơn 4 điểm phần trăm so với mức trung bình của thời kỳ trước năm 2000. Trong khi đó, các công ty được xếp hạng cao nhất có thể đi vay với lãi suất 2,4%, bằng một nửa so với mức 5,1% của những năm trước. 

Kết quả là, chi phí đi vay của rất nhiều công ty đa quốc gia thấp hơn nhiều so với của các chính phủ châu Âu. Trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Procter & Gamble có lợi suất 2,3%, bằng một nửa so với lợi suất trái phiếu chính phủ Italia.  Tổng cộng, các tập đoàn đa quốc gia đã phát hành số trái phiếu chính phủ trị giá 2.000 tỷ USD trong năm 2012, cao nhất kể từ 2009. 

Lợi suất thấp không chỉ khiến cuộc sống trở nên dễ thở hơn đối với người tiêu dùng và các công ty lớn. Điều này giúp cải thiện chỉ số lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) và khiến cổ phiếu trở nên hấp dẫn hơn. Năm ngoái, các công ty Mỹ đã bỏ ra khoảng 400 tỷ USD để mua lại cổ phiếu quỹ - tương đương với 2,6% GDP của nước Mỹ. Tỷ lệ ở Anh là 3,1% GDP và xu hướng này sẽ được tiếp tục trong năm 2013. Tính đến ngày 7/3, các chương trình mua lại cổ phiếu quỹ đã được công bố có giá trị lên đến 111,6 tỷ USD, tăng 96% so với cùng kỳ năm ngoái. 

Tiền rẻ cũng khiến việc mua lại các công ty khác trở nên dễ dàng hơn với nhiều vụ thâu tóm đình đám. Đây có thể là dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp Mỹ) đã trở nên tự tin hơn. Tuy nhiên, đây cũng có thể là dấu hiệu cho thấy họ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao lợi nhuận bằng hoạt động mua bán hàng hóa thông thường. 

Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp (Mortgage backed security - MBS) cũng là tài sản gây được nhiều sự chú ý trong thừoi gian gần đây. J.P. Morgan vừa nâng dự báo các MBS được phát hành trong năm nay sẽ có giá trị lên đến 70 tỷ USD (năm ngoái con số là 45 tỷ USD). Ngân hàng này viện dẫn lý do là do nhu cầu cao từ phía nhà đầu tư và niềm tin cho rằng thị trường bất động sản đang hồi phục. 

Thừa tiền mà không biết làm gì

Về mặt lý thuyết, lãi suất thấp sẽ khuyến khích các công ty tăng cường đầu tư. Các doanh nghiệp đưa ra danh sách dự án mà họ muốn tài trợ dựa trên lợi suất kỳ vọng. Chi phí đi vay càng thấp, lợi suất thu về càng cao. 

Rõ ràng là, chi phí đi vay thấp hơn chính là cơ hội tốt để các công ty đổ tiền vào xây dựng nhà máy mới và thuê thêm nhân công. Tuy nhiên, thực tế lại không phải như vậy. Các doanh nghiệp Mỹ đang ngồi trên đống tiền mặt 1.800 tỷ USD trong khi các doanh nghiệp châu Âu có 1.500 tỷ USD tiền mặt. Ở cả Mỹ, Anh và eurozone, tỷ trọng đầu tư so với GDP vẫn ở mức thấp hơn so với thời kỳ trước khủng hoảng. 

Các công ty vẫn còn phải lo lắng về quá nhiều nhân tố ảnh hưởng đến một dự án dài hơi: cân bằng cung cầu trong ngành, khung pháp lý cũng như nguồn lao động sẵn có.  Và, những nhân tố này còn khá bấp bênh. Theo Ulf Quellmann, chuyên gia đến từ tập đoàn khai khoáng Rio Tinto, lãi suất không phải là nhân tố quan trọng nhất khi đưa ra quyết định đầu tư bởi chi phí lãi vay chỉ là một phần nhỏ trong chi phí sản xuất. 

Nhật Bản chính là ví dụ điển hình trong trường hợp này. Trong khi lợi suất danh nghĩa ở mức gần 0 trong suốt một thập kỷ nay (lợi suất thực âm), tỷ lệ đầu tư vẫn không khác mấy so với năm 1997. Các doanh nghiệp không đầu tư bởi nền kinh tế vẫn còn yếu và do đó tăng trưởng tiêu dùng nội địa chỉ là viễn cảnh chưa bao giờ xảy ra. 

Thận trọng cũng là yếu tố khiến các công ty lưỡng lự. Sau khi Lehman Brothers sụp đổ vào mùa thu năm 2008, các công ty nhỏ và vừa không thể quay trở lại thị trường trái phiếu khi các ngân hàng đóng chặt cửa. Ở eurozone, tín dụng giảm 0,4% trong năm tài khóa kết thúc vào tháng 2. Trong tháng 1, chỉ 1% các ngân hàng châu Âu cho rằng đã nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ trong khi 12% cho rằng qui định trở nên khắt khe hơn. 

Các chuyên gia cho rằng đối với các doanh nghiệp nhỏ, lợi thế lãi suất thấp đã bị triệt tiêu bởi mức phí quá cao của các ngân hàng. Lời phàn nàn mạnh mẽ nhất đến từ các nước Hungary, Tây Ban Nha, Phần Lan và Pháp. 

Hiệp hội các quỹ lương hưu ở Anh ước tính rằng bằng cách giảm lợi suất trái phiếu, chương trình nới lỏng định lượng đã khiến thâm hụt của các quỹ lương hưu tăng thêm 90 tỷ bảng trong năm 2012. 

Các công ty bảo hiểm cũng gặp phải vấn đề tương tự. Lãi suất thu được từ khoản phí bảo hiểm được đem đi đầu tư là một phần quan trọng trong thu nhập của họ. Do đó, mức lãi suất thấp như hiện nay khiến họ khốn đốn và buộc phải chuyển đổi sang mô hình kinh doanh phù hợp hơn. 

Bất chấp những rắc rối của một vài khu vực, nhiều khả năng NHTW của các nước lớn sẽ không thắt chặt chính sách tiền tệ trong tương lai gần bởi rủi ro nền kinh tế quay trở lại suy thoái là quá lớn. Cái cách mà giới đầu tư và các doanh nghiệp tận dụng lợi thế lãi suất thấp sẽ trở thành yếu tố quyết định diễn biến của các nền kinh tế phát triển trong một vài năm tới. Có thể, máu sẽ không đổ. Tuy nhiên, bong bóng là điều chắc chắn sẽ xảy ra. 

Thu Hương

huongnt

Theo Trí thức trẻ/Economist

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên