TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Những tác động của quy tắc Volcker

07-02-2010 - 09:51 AM | Tài chính quốc tế

Những tác  động của quy tắc Volcker

Thế kẹt hiện nay của Phố Wall ngược hẳn với những gì diễn ra hồi cuối năm 2008. Khi ấy giới quan chức xoay như chong chóng với những kế hoạch cứu ngân hàng.

Bài viết đầu tiên trong seri 4 bài về những tác động của Quy tắc Volcker đối với ngành tài chính

Thế kẹt hiện nay của Phố Wall ngược hẳn với những gì diễn ra hồi cuối năm 2008. Khi ấy giới quan chức xoay như chong chóng với những kế hoạch cứu ngân hàng.

Giờ họ lại đang chạy đua đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác đi kèm những ngôn từ đáng sợ để trừng phạt số ngân hàng còn tồn tại.

Thông điệp liên bang mới đây của Tổng thống Obama cũng là một đòn tấn công mới. Ông thừa nhận rằng kế hoạch giải cứu ngân hàng rất mất lòng dân và thề sẽ đánh bại những tay vận động hàng lang đang “cố giết chết” cải cách tài chính.

Đợt tấn công bắt đầu từ ngày 14/01 bằng một sắc thuế đánh vào trách nhiệm của các ngân hàng lớn trong 10 năm tới.

Mọi chuyện căng thẳng hơn nhiều vào ngày 21/01 với kế hoạch mới hạn chế quy mô, cấm họat động tự doanh và giới hạn tham gia vào các quỹ đầu cơ cùng các công ty vốn cổ phần. TT Obama muốn gom các biện pháp này thành một đề án cải cách có thể được Quốc hội thông qua.

Một dự luật đã được Hạ viên thông qua nhưng chưa dành được sự phê chuẩn từ Thượng viện cho phép các cơ quan giám sát hạn chế phạm vi cũng như quy mô của các doanh nghiệp có thể đe dọa đến ổn định tài chính. Những đề xuất mới đây bắt buộc các cơ quan này phải làm như vậy.

Dù được nhiều người gán cái mác Đạo luật Glass-Steagall “mới”, kế hoạch này vẫn chưa tới mức như đạo luật thời Đại suy thoái chia tách ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư.

Ngân hàng vẫn có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư cho khách hàng ví dụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán và tạo lập thị trường. Mục tiêu của kế hoạch này theo lời giới quan chức chỉ bó hẹp trong việc ngăn Phố Wall đánh bạc trên thị trường vốn bằng số tiền gửi được trợ cấp.

Thời điểm đề xuất này ra đời, hai ngày sau khi Đảng của TT Obama đột ngột thất bại trong cuộc bầu cử ghế Thượng nghị sỹ Massachusetts, xem ra chính trị đến lộ liễu. Nhưng nó hoàn toàn không ra đời một cách bột phát.

Năm ngoái đội ngũ cố vấn kinh tế cho Tổng thống dường như đã hài lòng với việc trói buộc ngân hàng bằng các quy tắc nghiêm ngặt hơn với một tỷ số an toàn vốn cao hơn thay vì giới hạn hoạt động.

Tuy vậy, trong những tháng gần đây họ hâm nóng lại những ý tưởng quyết liệt của Cựu Chủ tịch FED Paul Volcker.

Ngân hàng đang cố ước tính họ sẽ tổn thất đến đâu. Dù còn chưa chi tiết nhưng tác động của nó xem ra có thể kiểm soát được.

Giới quan chức thú nhận rằng những hạn chế mới đối với nguồn quỹ ngoài tiền gửi được tạo ra để hạn chế tăng trưởng chứ không phải buộc các tập đoàn phải thu hẹp hoạt động.

Ngân hàng vốn đã đang thu hẹp mạnh hoạt động tự doanh do hậu quả của khủng hoảng: một số người cho rằng cấu thành của nó trong doanh thu đã giảm một nửa trong ba năm trở lại đây.

Tự doanh nay nhìn chung chỉ đóng góp 1-2% doanh thu nếu loại trừ hoạt động chấp nhận rủi ro của chính khách hàng. Tuy vậy xác định được chính xác là điều vô cùng khó và đó sẽ là việc của các cơ quan giám sát.

Hơn nữa, ngân hàng sẽ được cho phép giữ các quỹ đầu cơ nắm tiền của khách hàng. Ngân hàng Mỹ chỉ đầu tư 10 tỷ đôla vào các quỹ đầu cơ bằng vốn của chính mình.

Đầu tư vốn cổ phần lại phức tạp hơn. Một số tập đoàn để rất nhiều tiền tại các quỹ mua lại doanh nghiệp vốn cũng thu được phí từ tư vấn và cho vay.

Dù cho tác động tài chính của Quy tắc Volcker chỉ khiêm tốn, nhưng lợi nhuận ngân hàng sẽ lao dốc một khi tất cả những sáng tạo pháp lý trên được thực thi, Richard Ramsden từ Goldman Sachs nói.

Những đề xuất mới nhất về thẻ tín dụng và hạn chế số tiền chi trội có thể tiêu tốn của JPMorgan Chase 4,5 tỷ đôla lợi nhuận sau thuế. Meredith Whitney, một nhà phân tích độc lập, nhận định ngân hàng sẽ mất vài % ROE.

Sự chú ý đang đổ dồn tới tác động của nguyên tắc mới đối với ngân hàng của chính ông Ramsden. Goldman cho biết 10% doanh thu đến từ mảng tự doanh, cao hơn nhiều so với các đối thủ khác.

Một số nhà phân tích cho rằng con số này còn cao hơn. Kết hợp cùng mảng tư vấn, giao dịch và đầu tư cùng khách hàng, “toàn bộ văn hóa của ngân hàng, trong một chừng mực nào đó, là hoạt động tự doanh,” bà Whitney nói.

May thay cho Goldman, họ vẫn còn đường thoát. Nếu từ bỏ bộ phận ngân hàng thương mại nhỏ, họ có thể quay lại là một nhà môi giới kiêm quỹ đầu cơ, thoái mái giao dịch như ý thích.

Giới quan chức cho rằng đường thoát này cũng không ổn vì Goldman sẽ không được tiếp cận với nguồn vốn từ ngân hàng trung ương và phải chịu yêu cầu vốn cũng như giám sát nhiều hơn.

Nhưng Goldman vẫn nhận được sự ủng hộ ngầm từ chính quyền, trừ khi thị trường bị thuyết phục rằng Goldman sẽ bị để cho sụp đổ nếu gặp vấn đề. Điều đó có vẻ bất khả thi.

Quốc hội có thể phản ứng mạnh khi mà một doanh nghiệp mất lòng dân như thế “thoát hiểm”. Quy tắc Volcker có thể dễ dàng bị bóp méo trong tay các nhà làm luật.

Phe Cộng hòa phản đối dữ dội một sự can thiệp mạnh mẽ đến thế từ Chính phủ dù cho dù có lo ngại bị xem là đi ủng hộ giới ngân hàng.

Một số thành viên cao cấp phe Dân chủ ví dụ như Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Chriss Dodd thờ ơ với kế hoạch này. Ông Dodd vốn đã rất khó khăn khi phải soạn thảo một dự luật có thể dành được sự ủng hộ của vài TNS Cộng hòa.

Thật là một pha phản lưới nhà ngoạn mục nếu sáng kiến của Nhà trắng khiến nhiệm vụ của ông trở nên khó khăn hơn.

Kế hoạch này chưa dành được sự ủng hộ tuyệt đối ở cả hai bờ Đại Tây Dương.

Đảng Bảo thủ đối lập tại Anh, đảng nhiều khả năng sẽ quay trở lại nắm quyền năm nay, có phản ảnh tích cực tương tự như Thống đốc NHTW Châu Âu, ông Jean-Claude Trichet.

Ủy ban ổn định tài chính, cơ quan định hướng cho quá trình cải cách toàn cầu, cũng đồng tình với nó, nhấn mạnh rằng một sự phối hợp trên quy mô rộng hơn là cần thiết để thuần hóa đám quái vật tài chính.

Pháp và Đức ít hào hứng hơn. Cả hai đều thận trọng trước sáng kiến có thể chết yểu này.

“Nhiều người ở đây cho rằng đừng có tự lừa mình làm điều người Mỹ không làm chì vì mấy tay vận động hành lang cho giới ngân hàng Mỹ,” Nicolas Véron từ cơ quan nghiên cứu Brueghel tại Brussels nói.

Nhiều người tại Châu Âu ưa tăng phí giao dịch dù có là đặt lệnh cho khách hàng hay được tiến hành trên chính tài khoản của ngân hàng.

Nếu Châu Âu không thể tiếp bước Mỹ, đó sẽ là một đòn đánh vào nỗ lực tạo ra một bộ quy tắc chung cho toàn thế giới. Kế hoạch của Mỹ theo sau sắc thuế đánh vào tiền thưởng tại Anh khiến có nhiều lo ngại về sự trỗi dậy của chủ nghĩa đơn cực.

Sự thiếu nhất quán đẻ ra điều mà Huân tước Howard Davies, cựu Chủ tịch Cơ quan dịch vụ tài chính Anh Quốc gọi là “thận trọng một cách khinh suất”, tức những quy tắc chắp vá cồng kềnh.

Nếu ngân hàng Mỹ thực sự bất lợi so với các đối thủ nước ngoài, họ sẽ cố tìm cách lách luật.

Với các ngân hàng lớn tại Mỹ, nỗi lo sát sườn hơn là việc TT Obama sẽ hé lộ nhiều biện pháp nghiêm khắc trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11.

Cũng nên lưu ý rằng người sau cánh gà Paul Voclker ủng hộ việc buộc các quỹ trên thị trường tiền tệ phải tuân thủ luật lệ dành cho ngân hàng.

Ngày 27/01, Ủy ban chứng khoán đã bỏ phiếu thông qua việc thi hành các luật lệ về tính thanh khoản cũng như minh bạch tại các quỹ này.

Chính quyền “đang cố làm luật bằng cách hò hét,” Steve Barlett từ Financial Services Roundtable nói. Theo ông khi công bố bộ quy tắc Volcker, TT Obama dành nhiều thời gian công kích ngân hàng thay vì phác thảo kế hoạch của mình.

Nhưng đó lại là bước đi khôn ngoan về mặt chính trị: đa số người Mỹ cho rằng đáng lẽ không nên cứu Phố Wall. Nếu tiếp tục chọc giận công chúng, có lẽ đạo luật Glass-Steagall sẽ hồi sinh.

Những nguy cơ về mặt pháp lý cũng có tác động tài chính của riêng mình. Giới ngân hàng ngày càng lo ngại rằng cổ đông tổ chức sẽ dần mất niềm tin khiến chi phí phát hành chứng khoán nợ tăng.

Họ phàn nàn rằng rồi sẽ có những hậu quả không lường trước nổi. Giới hạn giao dịch và hạn chế đòn bẩy có thể khiến các nghiệp vụ có biên lợi nhuận thấp như cho vay repo kém tính kinh tế hơn, giảm tính thanh khoản của các trái phiểu bảo đảm bằng danh mục cho vay cầm cố hay trái phiếu chính phủ vốn dùng để ký quỹ trong những giao dịch này.

Đây không phải là lúc cho giới ngân hàng phàn nàn. Công khai phản đối là điều không khôn ngoan.

Một người làm việc tại ngân hàng đầu tư liêu tưởng không khí này với những gì diễn ra sau sự kiện 11/09, khi không ai dám kêu gọi hạn chế tra tấn những người tình nghi khủng bố.

Có lẽ cả phố Wall lẫn những người đang tấn công họ đều đang phát cuồng vì sợ mình thiệt!

Tổng hợp


ngocdiep