TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Suy thoái đang nới rộng khoảng cách giàu nghèo

17-04-2011 - 09:50 AM | Tài chính quốc tế

Suy thoái đang nới rộng khoảng cách giàu nghèo

Cách biệt giữa các quốc gia thường không lớn bằng sự cách biệt trong nội bộ từng nước, nơi bị phân hóa bởi một nền kinh tế chung.

Theo một phân tích của The Economist, khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực đã gia tăng trong thời kì suy thoái ở một số quốc gia phát triển. Và khoảng cách thu nhập giữa những khu vực này dường như lại bị nới rộng, khi việc cắt giảm chi tiêu mất cân xứng của Chính phủ tác động ít hơn đến những vùng giàu có. Dữ liệu khu vực gắn liền với những mức độ cảnh báo khác nhau. Sẽ rất rắc rối nếu ta so sánh các khu vực thuộc các quốc gia khác nhau, vì kích thước của chúng có thể rất khác biệt. Chúng ta chủ yếu sử dụng khái niệm “khu vực nhỏ” theo OECD (nước Anh được chia thành hơn 100 khu vực), trừ trường hợp của Mỹ, nơi dữ liệu chỉ được cung cấp theo cơ sở từng bang. Các con số về thu nhập cũng không tính đến việc chi phí sinh hoạt ở nông thôn thì rẻ hơn ở thành phố lớn, điều này sẽ còn cường điệu hơn sự cách biệt. Hầu như khu vực đô thị bao giờ cũng sung túc hơn khu vực nông thôn bởi hiệu suất cao hơn và khả năng thu hút các công ty cũng như người lao động tốt hơn.

Sự cách biệt thu nhập vùng miền ở nhiều quốc gia thực sự rất đáng ngạc nhiên. Biểu đồ trên so sánh tỉ lệ GDP đầu người của những vùng nghèo nhất và giàu nhất tính theo % trung bình thu nhập quốc gia (biện pháp thường được OECD sử dụng). Nước Anh có sự chênh lệch lớn nhất, với GDP trung bình đầu người tại trung tâm London lớn hơn 9 lần so với các khu vực xứ Wales. Thu nhập đầu người tại trung tâm London được thổi phồng lên vì có những người làm việc tại thành phố này nhưng lại sống ở nơi khác, nhưng cho dù có chỉnh lý vấn đề đó đi nữa thì khác biệt tại Anh vẫn rất lớn. Tương tự với Mỹ: Quận Columbia giàu gấp 5 lần Mississipi. Ý và Đức có mức chênh lệch vùng miền thấp nhất, tuy vậy thu nhập tại những vùng giàu nhất vẫn gấp gần 3 lần vùng nghèo nhất.

Tại một vài nơi, khác biệt vùng miền ngày càng trở nên tồi tệ. Đầu tiên là Mỹ. Giữa năm 2007 và 2009, GDP đầu người thực tế tại 5 bang giàu nhất tăng trung bình 2%, song lại giảm 3% tại 5 bang nghèo nhất. Tuy vậy, tăng trưởng của cả 2 nhóm này đều đạt trên mức trung bình toàn quốc – giảm 4%. (Mức sụt giảm lớn nhất, hơn 10%, thuộc về Michigan, bang nghèo thứ 8 và Nevada, nơi chịu tác động mạnh nhất từ tai nạn giá nhà đất). Nhưng nhìn chung, các khu vực giàu hơn vẫn làm ăn tốt hơn.

Đó cũng là xu hướng lâu đời. Kể từ năm 1990, tỉ lệ GDP đầu người tại quận Columbia so với Mississippi đã tăng gần 5 lần (xem biểu đồ 2, nếu chỉ xét riêng Mỹ thì dữ liệu được sử dụng cho nhiều khu vực hơn biểu đồ 1 vì được cập nhật kịp thời hơn). Sự thay đổi sẽ ít rõ ràng hơn nếu bạn bình quân GDP đầu người cho 5 bang giàu nhất và nghèo nhất, song vẫn dễ nhận thấy. Phần lớn là do các bang nghèo hơn đã quá phụ thuộc vào sản xuất, mà ngành này lại phải chịu đợt cắt giảm nhân công lớn trong thập kỉ trước. Năm 2000, tỷ trọng sản xuất trong GDP của 5 bang nghèo nhất trung bình lớn gấp 3 lần so với 5 bang giàu nhất.

Cách biệt vùng miền cũng bị nới rộng tại Anh. Tỉ lệ GDP đầu người của 3 khu vực giàu nhất trên 3 khu vực nghèo nhất tăng gần 1/10 từ năm 1990 đến năm 2009. Suy thoái kinh tế đã trầm trọng hóa mọi thứ. GDP đầu người thực tế giảm 6% trong khoảng 2007-09 tại các khu vực nghèo hơn, như là Yorkshire, vùng Trung và Bắc Ailen, gấp 2 lần so với London. Tại Pháp, khoảng cách thu nhập cũng gia tăng: trong thời kì suy thoái GDP đầu người thực tế tại 5 khu vực nghèo nhất giảm gấp 2 lần so với khu vực Ile de France xung quanh Paris.

Câu chuyện tại Đức lại khá khác biệt. GDP đầu người tại 5 bang nghèo nhất của Đức (tất cả đều thuộc phía Đông) giảm nhẹ hơn một chút so với 5 bang giàu nhất. Điều này tiếp tục xu hướng hội tụ đột ngột của 2 thập kỉ trước, một phần nhờ vào sự đầu tư của các quỹ khổng lồ quốc gia và Liên minh châu Âu cho cơ sở hạ tầng, nghiên cứu phát triển và giáo dục, cũng như chuyển đổi một số công việc sản xuất từ nhà xưởng phía Tây sang phía Đông. Năm 1991, ngay sau khi thống nhất đất nước, Hamburg giàu gấp 5 lần các khu vực Đông Đức nghèo nhất; đến nay khoảng cách chỉ còn là 2.3 lần. Tương tự tại Ý, khoảng cách giữa miền bắc giàu có và miền nam tụt hậu đã được thu hẹp theo thời gian, một phần nhờ vào những chuyển đổi tài khóa lớn.

Dữ liệu kinh tế quốc gia có tác dụng che giấu đi những biến đổi vùng miền. Dưới bề mặt ấy có thể có những biến đổi khó tin. Ngay khi các vùng nghèo hơn ở phía tây đang trở nên tụt hậu, những tỉnh giàu có nhất Trung Quốc là Thượng Hải và Bắc Kinh lại tăng trưởng thậm chí còn nhanh hơn toàn bộ nền kinh tế. Nếu GDP đầu người được quy đổi sang đô la, sử dụng tỷ giá cân bằng sức mua (PPP) quốc gia của IMF (một lần nữa hãy nhớ rằng tỷ giá quốc gia không thể hiện được sự khác biệt chi phí sinh hoạt giữa các khu vực khác nhau), hơn ¼ khu vực thuộc Anh, Italia và 1/10 thuộc Đức năm nay sẽ có GDP đầu người thấp hơn GDP thành phố Thượng Hải. Tất cả các bang của Mỹ vẫn giàu hơn, song Thượng Hải đã lên kế hoạch vượt Mississipi vào năm 2015; và trong vòng 10 năm nữa, một nửa số bang, bao gồm Florida, Michigan và Ohio, có thể có GDP đầu người thấp hơn Thượng Hải và Bắc Kinh.

Cách tốt nhất để nâng cao thu nhập tại những khu vực nghèo nhất mà không chỉ phân phát tiền là gì? Một vài ý kiến cho rằng cần phải tạo ra thị trường lao động linh động hơn, nhờ đó mọi người có thể di chuyển tới nơi khác để tìm việc, do đó giảm nguồn cung lao động ở những nơi có tỉ lệ thất nghiệp cao. Tình trạng thất nghiệp rất dễ trở nên bảo thủ. Tại Calabria, Italia, tỉ lệ thất nghiệp đã giảm đột ngột, từ 26% năm 2000 xuống còn 12% vào năm ngoái, song phần lớn là vì những người thất nghiệp đã bỏ cuộc tìm việc làm. Chỉ khoảng 40% người trong độ tuổi lao động thực sự có việc làm; con số này ở phía Bắc Italia là 65% - 70%.

Song các nghiên cứu cho rằng cách biệt về hiệu suất mới thực sự quan trọng, hơn hẳn cách biệt về tỉ lệ thất nghiệp nếu dùng để giải thích sự chênh lệch thu nhập. Điều này có nghĩa là các chính phủ cũng cần phải tập trung cải thiện giáo dục và kĩ năng tại những khu vực nghèo hơn. Tại Mississipi chỉ 19% số người 25 tuổi trở lên có bằng cấp, ở Connecticut là 36% và Quận Columbia là 48%. Chỉ có 21% người trong độ tuổi lao động tại Sunderland, một thành phố đông bắc nước Anh là có bằng cấp, và ở London con số này là 39%.

Thật không may, công quỹ sẽ được thắt chặt hơn trong vài năm tới. Thật vậy, khoảng cách giữa khu vực giàu và nghèo dường như đang bị nới rộng tại nhiều quốc gia khi cắt giảm chi tiêu công cộng. Không nơi nào chứng kiến rõ ràng ảnh hưởng của vấn đề này như nước Anh. Các thành phố ở phía bắc và xứ Wales phụ thuộc vào các công việc công cộng và phúc lợi xã hội nhiều hơn so với các tỉnh phía nam.

Theo Centre for Cities, một nhóm chuyên gia cố vấn, phúc lợi xã hội chiếm 28% tổng thu nhập dân chúng tại Liverpool, và 14% tại London. Gần 40% công ăn việc làm tại Liverpool thuộc khu vực công, và ở London là 22%.

Tại Mỹ, chi tiêu của các tiểu bang cũng sẽ bị siết chặt mạnh mẽ. Chi tiêu ít hơn cho giáo dục và cơ sở hạ tầng sẽ tác động xấu đến tiềm năng tăng trưởng lâu dài của các khu vực, làm giảm khả năng các khu vực nghèo hơn bắt kịp các khu vực giàu hơn. Việc các ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách đứng sau sự suy thoái và tình trạng tài khóa yếu kém hiện tại có chú ý đến vấn đề này không còn chưa rõ ràng. Họ đa phần sống tại những khu vực giàu có.

Thu Thủy
Theo Economist

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM