TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tại sao châu Á dẫn đầu hồi phục kinh tế thế giới?

17-08-2009 - 12:18 PM | Tài chính quốc tế

Tại sao châu Á dẫn đầu hồi phục kinh tế thế giới?

Nền kinh tế các nước mới nổi châu Á hồi phục nhanh hơn nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Sự đi lên mạnh này ngược hoàn toàn với dự báo trước và trong khủng hoảng.

Sự đi lên mạnh mẽ

Gần đây, kinh tế Mỹ đón nhiều tin tốt, dù vậy vẫn không thấm vào đâu so với tin tức lạc quan đến từ châu Ấ. So với quý trước đó, nền kinh tế các nước mới nổi châu Á quý 2/2009 nhiều khả năng đã tăng trưởng tới 10% (tốc độ tính theo trung bình năm) trong khi đó GDP Mỹ tăng trưởng âm 1%.

Các chuyên gia ở thời điểm hiện nay dự báo kinh tế các nước mới nổi châu Á tính cả năm 2009 có thể tăng trưởng ít nhất 5% còn kinh tế các nước G7 tăng trưởng âm 3,5%. Khoảng cách tăng trưởng giữa hai nhóm nước này chưa bao giờ rộng đến thế. Những nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu này cố gắng tách biệt khỏi ảnh hưởng của kinh tế cá nước phát triển như thế nào và liệu sự hồi phục có bền vững?

Số liệu tăng trưởng trung bình che giấu đi những khác biệt lớn trong nội tại châu Á. Trung Quốc, Ấn Độ và Indonexia nằm trong nhóm nền kinh tế vẫn tăng trưởng trong suốt thời kỳ kinh tế toàn cầu đi xuống (cuối năm ngoái kinh tế Trung Quốc tăng trưởng trì trệ). Nhóm nền kinh tế nhỏ của châu Á chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái kinh tế toàn cầu. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 cho đến tháng 3/2009, GDP Hồng Kông, Malaysia, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Thái Lan hạ khoảng 13%.

Thế nhưng cho đến nay, có thể thấy rõ sự phục hồi ấn tượng từ những số liệu GDP châu Á đã được công bố. Tính theo trung bình năm, GDP Trung Quốc tăng trưởng 15%, GDP Hàn Quốc tăng trưởng 10%, GDP Singapore vọt lên với tốc độ tăng 21% còn Indonexia đạt mức tăng trưởng 5% so với quý 1/2009.

Tín hiệu hồi phục cũng có thể thấy tại nhiều nền kinh tế khác trong khu vực. Trên thực tế, kinh tế Hàn Quốc và Singapore vẫn khó khăn hơn so với 1 năm trước, thế nhưng thay đổi theo quý dễ cho thấy những chuyển biến bước ngoặt – và đây cũng chính là cách người ta tính toán tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ.

Sản xuất công nghiệp châu Á còn hồi phục ấn tượng hơn, tốc độ tăng trưởng tính trung bình năm trong quý 2/2009 đạt 36%. Theo tính toán của Barclays Capital, khu vực kinh tế mới nổi châu Á là khu vực duy nhất trên thế giới đã lấy lại được mức sản lượng tương đương trước khủng hoảng.

 Yếu tố lớn đóng góp vào việc này là sản xuất công nghiệp Trung Quốc trong khoảng thời gian 12 tháng kết thúc vào tháng 7/2009 tăng tưởng 11%, ngoài ra sản xuất công nghiệp của tất cả các nước châu Á đều hồi phục. Trong khi đó sản xuất Mỹ tháng 6/2009 tiếp tục đi xuống.

 Mô hình hồi phục hình chữ V và sự thật rằng GDP ở thời điểm đầu năm ở mức thấp hơn so với năm 2008 đồng nghĩa với việc số liệu tăng trưởng cả năm 2009 có thể đưa ra thông điệp sai lệch. Xét đến Đài Loan: JP Morgan dự báo GDP năm 2009 sẽ thấp hơn 3,8% so với năm 2008 và như vậy sẽ tiếp tục khó khăn.

 Thế nhưng dự báo này cũng nói đến việc GDP sẽ tăng trưởng với tốc độ 5,4% trong khoảng thời gian 1 năm tính đến quý 4 năm nay. Tính theo cách đó, nhóm nền kinh tế mới nổi châu Á rõ ràng đang đi đầu đà hồi phục kinh tế toàn cầu. Ngay cả nếu kinh tế Mỹ tăng trưởng trong nửa sau của năm, quy mô kinh tế ở thời điểm cuối năm sẽ vẫn thấp hơn thời điểm đầu năm.

 Sự hồi phục của châu Á khiến không ít chuyên gia ngạc nhiên. Tháng 5/2009, IMF dự báo kinh tế châu Á sẽ hồi phục rất chậm bởi mối liên kết với nền kinh tế các nước phát triển, nhu cầu đối với hàng xuất khẩu châu Á sẽ thấp. Các chuyên gia cũng đánh giá thấp khả năng hồi phục từ suy thoái kinh tế của các con hổ châu Á.

 Thời kỳ khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998, nhiều nước trong khu vực gặp khó khăn bởi thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và đồng nội tệ của họ chịu quá nhiều sức ép. Nợ tính theo đồng ngoại tệ tăng cao, hậu quả là làn sóng phá sản, sụp đổ của các doanh nghiệp, ngân hàng lên rất cao. Năm 1998, GDP Thái Lan, Indonexia và Hàn Quốc sụt giảm trung bình 10%.

Nhiều chuyên gia cho rằng sự thành công của kinh tế châu Á không thực chất mà chủ yếu đến từ việc chính phủ bơm tiền quá mạnh tay vào các công ty. Hoạt động cho vay và đầu tư quá mức tạo nên tăng trưởng giả tạo, nhiều chuyên gia bi quan còn dự đoán về một thập kỷ mất mát. Thực tế, các con hổ châu Á đang vươn lên mạnh mẽ.

Cuối năm 1998, khảo sát của Economist dự báo kinh tế Hàn Quốc sẽ lại suy giảm trong năm 1999. Thế nhưng trên thực tế, GDP Hàn Quốc năm đó tăng trưởng 9,5%. Trên thực tế, đúng là con số về tăng trưởng kinh tế châu Á đã che giấu đi yếu điểm như đầu tư lãng phí, hệ thống điều tiết ngân hàng không hợp lý, tham nhũng, thế những yếu tố chính làm nên tăng trưởng bao gồm tăng trưởng nhanh về năng suất, thị trường cởi mở, tỷ lệ tiết kiệm cao vẫn là lực đẩy quan trọng. Điều này giải thích tại sao nền kinh tế Đông Á hồi phục nhanh hơn so với nhiều người dự đoán.

Năm 2001, khi bong bóng công nghệ thông tin vỡ, châu Á chìm vào suy thoái năm 2001, nhiều người đã quá bi quan về triển vọng của châu Á. Lại một lần nữa châu Á trỗi dậy mạnh mẽ. Người phương Tây đã quá vội vàng trong việc tuyên bố về hồi cáo chung cho sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ của châu Á.

Điều gì khiến châu Á thành công?

Hiện tượng trên cho thấy một số hiểu nhầm về những yếu tố làm nên thành công trong tăng trưởng kinh tế châu Á. Năm nay, người ta thường dự đoán kinh tế châu Á sẽ chưa hồi phục cho đến khi Mỹ và châu Âu tăng trưởng trở lại. Thế nhưng châu Á đi trước và tăng trưởng trong khi phần còn lại của thế giới vẫn khó khăn. Tại sao?

Nhiều chuyên gia cho rằng sự hồi phục chẳng qua phản ánh việc các công ty lại sản xuất để nâng lượng hàng hóa cất trữ chứ trên thực tế nhu cầu không hề tăng. Các công ty từng thu hẹp sản xuất xuống dưới mức cần thiết để trút sạch lượng hàng tồn, và nay đã đến lúc họ cần phải sản xuất trở lại. Điều này có thể đúng ở một số quốc gia, thế nhưng ở nơi khác, các công ty vẫn đang trong giai đoạn giảm bớt lượng hàng tồn.

Tại Hàn Quốc, hàng tồn kho giảm mạnh trong quý 2/2009, điều này là chỉ báo cho thấy sản xuất sẽ tăng trưởng tốt trong khoảng thời gian còn lại của năm. Thay vào đó, sự hồi phục của Hàn Quốc chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư và tiêu dùng.

Tiêu dùng Hàn Quốc tăng 14% trong quý 2/2009. Đầu tư vào tài sản cố định tại Trung Quốc quý 2/2009 cao hơn 20% so với 1 năm trước, tiêu dùng người dân thực tế tại khu vực đô thị tăng 11% và doanh số ô tô vọt khoảng 70%.

Một lý do tại sao nền kinh tế các nước mới nổi châu Á có thể hồi phục mạnh và sớm hơn nền kinh tế nhóm nước giàu chính là sự đi xuống của kinh tế châu Á chỉ có một phần nguyên nhân từ việc kinh tế Mỹ suy giảm. Năm 2008, tiêu dùng nội địa bị “bóp nghẹt” bởi giá dầu và giá thực phẩm cao (chi tiêu cho năng lượng và thực phẩm chiếm phần quan trọng trong tiêu dùng châu Á), tiêu dùng ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chặt trong nỗ lực kiềm chế lạm phát.

Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc thực tế đã chững lại trước khi nhu cầu toàn cầu đi xuống, chính sách tín dụng chặt chẽ với mục tiêu ngăn kinh tế tăng trưởng quá nóng đã khiến thị trường nhà đất và xây dựng sụp đổ.

Trên khắp khu vực, kế hoạch kích thích tài khóa và tiền tệ đã giúp nhu cầu nội địa tăng cao. Châu Á đưa ra kế hoạch kích thích tài khóa với quy mô lớn hơn bất kỳ khu vực nào trên thế giới. Trung Quốc là nước đi đầu trong việc này, tuy nhiên Hàn Quốc, Singapore, Malaysia và Đài Loan cũng không hề “kém cạnh” khi đưa ra kế hoạch kích cầu với quy mô lên tới 4% GDP.

Phần lớn nền kinh tế châu Á, ngoại trừ Ấn Độ, bước vào khủng hoảng với khả năng tài chính tốt hơn rất nhiều so với các nước châu Âu vì thế họ có thể khả năng chi tiêu tốt hơn. Merrill Lynch dự báo tỷ lệ nợ công của khu vực ở thời điểm cuối 2009 sẽ là 45% GDP, chỉ bằng một nửa so với mức trung bình tại các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

Hơn thế nữa, việc bơm tiền tại châu Á phát huy tác dụng tốt hơn Mỹ hay châu Âu bởi người tiêu dùng châu Á không đè nặng bởi những món nợ lớn, tiền hỗ trợ thuế hay tiền mặt được chính phủ “tặng” sẽ được dùng để chi tiêu chứ không tiết kiệm. Hơn thế nữa, tại một nước nghèo hơn, sẽ dễ tìm ra một dự án hạ tầng để “rót tiền” hơn.

Tại Trung Quốc, việc tín dụng được nới lỏng đóng vai trò quan trọng hơn so với kế hoạch kích thích tài khóa. Dù hoạt động tín dụng tăng trưởng chững lại trong tháng 7/2009, hoạt động cho vay trong 7 tháng đầu của năm gấp 3 lần so với cùng kỳ. Khắp châu Á, nguồn tiền kích cầu có tác dụng kích thích chi tiêu tốt hơn phương Tây.

Yếu tố khác làm nên thành công của kinh tế châu Á còn là không giống Mỹ hay châu Âu, hệ thống tài chính châu Á không gặp khó khăn vì thế các ngân hàng có thể cho vay nhiều hơn. Người châu Á cũng không nợ nần nhiều và họ cũng muốn vay tiền hơn.

Tốc độ tăng trưởng thời gian tới chắc chắn sẽ không gây ngạc nhiên như quý 2/2009. Dù vậy, chuyên gia kinh tế Mike Buchanan thuộc Goldman Sachs đã nâng dự báo tăng trưởng GDP các nước mới nổi châu Á năm 2009 lên 5,6% và 8,6% trong năm 2010. Ông dự báo kinh tế Trung Quốc có thể tăng trưởng 9,45 trong năm 2009 và đạt mức 11,9% trong năm 2010.

Tăng trưởng GDP của Ấn Độ cũng sẽ có thể đạt 5,8% trong năm tài khóa hiện tại (kết thúc tháng 3/2010). Xuất khẩu chỉ mang lại 15% GDP Ấn Độ năm 2008 trong khi đó con số này tại Trung Quốc là 33%.

Tất yếu Ấn Độ chịu ít ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế hơn Trung Quốc. Thế nhưng bởi thâm hụt ngân sách cao (mức thâm hụt năm ngoái là 10% GDP), chính phủ không có điều kiện chi tiêu nhiều để kích thích tăng trưởng. Tăng trưởng GDP năm tới có thể sẽ là 7,8%.

Theo Economist
Ngọc Diệp

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên