TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tại sao tăng trưởng việc làm còn yếu?

23-01-2010 - 12:10 PM | Tài chính quốc tế

Tại sao tăng trưởng việc làm còn yếu?

Sau cú sốc từ cuộc khủng hoảng tín dụng sẽ là thời kỳ việc làm chậm chạp đi kèm với quá trình hồi phục kinh tế.

Mô hình phục hồi cổ điển này đang có sự kiểm chứng thực tế từ thị trường nhà đất và lĩnh vực bán lẻ.

Nhà kinh tế học lao động Ken Goldstein cho rằng: “Cái mà chúng ta trải qua không phải là chu kỳ kinh doanh, mà là một sự cải tổ trong cấu trúc kinh tế Mỹ. Những khó khăn từ sự thay đổi đó sẽ rất chậm chạp và kéo dài”

Nhận định này được củng cố khi thứ sáu vừa qua, chính phủ thông báo các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã cắt giảm 85000 việc làm ngoài dự kiến trong tháng 12 – dội một gáo nước lạnh vào niềm lạc quan về sự hồi phục của thị trường lao động.

Đối với ngành xây dựng nhà ở, sự điều chỉnh có thể kéo dài đến giữa năm 2013, thời điểm mà Liên đoàn xây dựng nhà quốc gia kỳ vọng tình hình sản xuất và việc làm hồi phục lại như cũ.

David Crowe, kinh tế gia trưởng của liên đoàn cho biết: “Ngành nhà đất đang trải qua một chu kỳ bất thường.

Số lượng việc làm ở ngành này đã bắt đầu giảm từ cuối năm 2005, đầu 2006 – sớm hơn gần 2 năm trước khi các lĩnh vực khác trong nền kinh tế lâm vào tình trạng tương tự.

Những cuộc khủng hoảng trong quá khứ cho thấy bất động sản thường là ngành hứng chịu thiệt hại đầu tiên, nhưng cũng hồi phục sớm nhất. Tuy nhiên lần này điều đó đã không xảy ra.Chúng tôi hy vọng tình hình việc làm nói chung sẽ sáng sủa hơn một chút vào năm 2010.”

Thực tế, số lượng việc làm trong ngành xây dựng nhà đã giảm 1/3 so với 3,5 triệu nhân viên trong thời kỳ đỉnh cao vào đầu năm 2006.

Tình hình ở các phân ngành khác trong lĩnh vực xây dựng – bất động sản cũng cho thấy điều tương tự: đi từ bùng nổ đến phá sản.

Số lượng nhân công trong Hiệp hội nhà đất quốc gia (NAR) từng tăng gấp đôi trong thời kỳ 1998-2007, đạt tới 1,35 triệu người năm 2006.

Nhưng kể từ đó, con số này đã giảm 22%. NAR không hy vọng doanh số bán nhà sớm trở lại mức đỉnh 6,5 triệu đơn vị của năm 2006, họ dự đoán năm 2011 nó chỉ tăng đến 5,7 triệu.

Tương tự, tính đến tháng 10/2009, số việc làm trong ngành cho vay thế chấp cũng giảm còn một nửa so với mức đỉnh 504.500 năm 2006

“Ai cũng hỏi ‘Khi nào thì mọi thứ mới trở lại bình thường?’, nhưng hãy cho tôi biết thế nào là bình thường?” – Jay Brinkman, một nhà kinh tế học và là phát ngôn viên của Hiệp hội ngân hàng cho vay thế chấp nói.

“Hãy nhìn xem đâu là nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế những năm qua: cho vay dễ dãi, lãi suất thấp, lãi bù rủi ro thấp, vay thứ phát (refinancing - hình thức vay nợ mới để trả nợ cũ), bán tài sản để tạo vốn.”

Ông Brinkman cho rằng tình trạng việc làm phản ánh điều đó, khi mà nhu cầu vay thứ phát đi xuống, những tiêu chuẩn cho vay vẫn ngặt nghèo, thị trường vay vốn không còn nằm trong kiểm soát của ngân hàng và những nhà môi giới cho vay thế chấp ngày càng ít đi.

Thị trường bán lẻ

Goldstein nói: “Trong chu kỳ kinh doanh mới, số lượng sản phẩm làm ra và bán được của các công ty sẽ chịu một hạn chế, và do đó số lượng nhân công họ sử dụng cũng sẽ có giới hạn”, và ông nhận định thêm: “Nếu như người tiêu dùng Mỹ trở nên tiết kiệm hơn thì đó là tin rất xấu đối với các nhà bán lẻ và một số ngành khác liên quan”

Đó là thực tế đã xảy ra trong năm 2008, khi chi tiêu tiêu dùng lần đầu tiên giảm hai quý liên tiếp trong hàng chục năm gần đây. Mặc dù tới nay nó đã có phần hồi phục, nhưng còn chưa đủ chắc chắn và tất nhiên không thể làm yên lòng các nhà sản xuất.

Richard Hastings, người phụ trách nghiên cứu các ngành bán lẻ và bất động sản của công ty chứng khoán Global Hunter, nhận xét: “Không nên kỳ vọng lĩnh vực bán lẻ sẽ trở thành nhân tố đóng góp cho quá trình tạo việc làm như trong những lần kinh tế hồi phục trước đây.

Lĩnh vực này đã đến giai đoạn bão hòa, có quá nhiều rào cản cho người nào muốn gia nhập, vì vậy không thể có những hãng bán lẻ mới phát triển nhanh chóng tạo thêm việc làm cho người lao động”

Trong giai đoạn 2000-2007, ngành bán lẻ đã tạo thêm 4,4 triệu việc làm cho nền kinh tế. Nhưng hiện tại tổng số nhân công trong lĩnh vực này chỉ còn 14,6 triệu, bằng với mức của năm 1998.

Hastings cũng chỉ ra mối quan hệ cộng sinh thú vị giữa hai ngành nhà đất và bán lẻ trong suốt thời kỳ bong bóng: “Cần phải có những sự thay đổi căn bản trong cấu trúc kinh tế.

Trong nhiều năm qua, ngành bán lẻ đã trở thành nguồn gián tiếp đem lại việc làm cho ngành bất động sản” – những chuỗi cửa hàng, siêu thị mua sắm lớn mọc lên liên tiếp phục vụ cho đông đảo người tiêu dùng “đói khát” trong các khu đô thị mới xây – “Và khi bong bóng nhà đất nổ tung thì nó cũng chấm dứt luôn sự tăng trưởng của ngành bán lẻ.”

Ông ln và doanh nghip nh

Những quy tắc mới về vấn đề vay và cho vay trên thế giới sẽ tiếp tục tác động đến ngành công nghiệp ô tô. Số lượng công nhân trong các nhà máy sản xuất xe hơi ở Mỹ đã giảm xuống dưới 100.000 người trong năm 2009, và nó cũng không thể trở thành điểm sáng tăng trưởng trong tương lai. Con số 112.000 công nhân hiện nay chỉ bằng một nửa so với thời kỳ sau cuộc suy thoái 2001.

Nhà máy mới chuyên sản xuất pin lithium ion phục vụ chế tạo xe hơi “sạch” của General Motors nhận được tài trợ từ Bộ năng lượng, nhưng cũng chỉ đem lại việc làm cho 100 người.

Những ngày hoàng kim khi sản lượng của hãng này đạt tới 18 triệu xe đã lùi vào dĩ vãng.

Goldstein nhận xét: “Có một sự thay đổi căn bản ở đây: không còn ai cung cấp tài chính cho những hợp đồng mua xe mới. Vì thế, mọi người buộc phải quay sang thị trường xe hơi đã qua sử dụng.”

Tam giác luẩn quẩn tín dụng–bán lẻ-nhà đất cũng là trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ - được coi là nguồn tạo việc làm truyền thống.

Martin Regalia, nhà kinh tế đứng đầu phòng thương mại Hoa Kỳ, cho rằng tình hình chung của khối doanh nghiệp này rất ảm đạm, họ cắt giảm nhiều nhân công và chỉ hoạt động trong “trạng thái thoi thóp”.

Vai trò của chính phủ

Chính quyền Obama đang cố gắng giúp đỡ các doanh nghiệp và người tiêu dùng bằng những khoản hỗ trợ từ TARP.

Ngân sách liên bang cũng tài trợ cho khu vực tư nhân tự tạo việc làm, tuy nhiên nhiều người lo lắng điều này có thể dẫn tới trở ngại lớn cho quá trình phục hồi việc làm cũng như các chính sách xã hội.

Chắc chắn chính phủ phải chịu trách nhiệm bù lấp khoảng trống cho đến khi khu vực tư nhân hồi phục trở lại, nhưng họ cần phải có một chiến lược mới.

Các hiệp hội ngành nghề ở Mỹ cho rằng năng suất lao động cao chưa từng có đã gây cản trở cho quá trình tạo việc làm, cần thiết phải có giải pháp tập trung vào khu vực sản xuất công nghiệp đang trì trệ cũng như những công việc ít yêu cầu kỹ năng và trả lương thấp đang bị bỏ bê.

Anna Burger, thư ký Công đoàn ngành dịch vụ quốc tế cho rằng tăng trưởng của ngành này phụ thuộc vào các ngành nghề khác có được cải thiện hay không , đồng thời đưa ra kiến nghị nhanh chóng tăng số việc làm trong khu vực công.

Nhưng có một điều không ai có thể bàn cãi, đó là về khung thời gian. Thậm chí Martin Feldtstein, nhà kinh tế trường phái trọng cung từng đoạt giải Nobel, cũng đã quen miệng với câu: cần nhiều năm nữa mới có thể khôi phục lại số việc làm đã mất.

Tổng hợp từ các báo

ngocdiep

Trở lên trên