TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Thập kỷ chiến thắng của “thế giới thứ ba”

21-08-2011 - 09:42 AM | Tài chính quốc tế

Thập kỷ chiến thắng của “thế giới thứ ba”

Những “người nghèo” năm xưa nay đã chiếm phần lớn sản lượng, xuất khẩu cũng như FDI toàn cầu.

Ngày 29/07 vừa qua, số liệu GDP thực tế của Hoa Kỳ trong vài năm vừa qua được điều chỉnh giảm. Hóa ra sản lượng quý II năm nay của nước này vẫn thấp hơn mức cuối năm 2007. Ở nhiều nước giàu khác, tình hình cũng tương tự. Ngược lại, tổng sản lượng cùng kỳ của các nền kinh tế mới nổi đã tăng gần 20%.

Khủng hoảng tại các nước giàu rõ ràng đã khiến sức mạnh kinh tế toàn cầu chóng chuyển dịch về phía các nước mới nổi. Nhưng chính xác thì các nền kinh tế mới nổi lớn tới đâu khi đặt cạnh các nền kinh tế phát triển?

Các tổ chức khác nhau định nghĩa hai chữ “mới nổi” và “phát triển” khác nhau. Ví dụ như IMF nay tính 11 nước mới nổi trước kia (trong đó có Hong Kong, Hàn Quốc, CH Séc và Estonia) vào danh sách các nước phát triển.

Phân loại như thế có phần thật tùy tiện vì GDP trên đầu người của Estonia chỉ là 15.000 đôla trong khi các nền kinh tế mới nổi khác như Các tiểu vương quốc Arap thống nhất (UAE) và Qatar có thu nhập trung bình tới 60.000 đôla. Và nếu các nền kinh tế mới nổi thành công được “lên hạng” thành “phát triển”, tỷ trọng kinh tế của các nước đang phát triển sẽ giảm dần và khiến sự “nổi lên” của họ ít đáng chú ý hơn.

Để đánh giá đúng sự thay đổi thực sự trong sức mạnh kinh tế toàn cầu, The Economist đã tổng hợp số liệu dựa trên phân loại của IMF vào trước năm 1997. Các nước phát triển bao gồm các thành viên gốc của OECD trừ Thổ Nhĩ Kỳ; tất cả các nước khác, gồm cả các nước công nghiệp mới ở Châu Á (NICs) như Hàn Quốc, vẫn được tính là “mới nổi”.

Tổng sản lượng của các nước đang phát triển năm 2010 chiếm 38% GDP thế giới (tính theo tỷ giá thị trường), gấp đôi so với tỷ trọng năm 1990. Có thể dự đoán rằng tỷ trọng này sẽ vượt tỷ trọng của các nước phát triển trong vòng 7 năm tới.

Nếu GDP được tính theo sức mua tương đương, tức có tính tới việc giá cả ở các nước nghèo hơn sẽ thấp hơn và khiến sức mua tăng, các nước mới nổi đã vượt qua các nước phát triển từ năm 2008 và năm nay có lẽ sẽ chiếm tới 54% GDP toàn cầu. Ấn tượng hơn, các nước này chiếm tới ¾ tăng trưởng GDP thực tế toàn cầu trong thập kỷ qua.

Phân tích của The Economist cho thấy các nước mới nổi còn “cất cánh” trên nhiều chỉ tiêu khác. Năm ngoái, các nước mới nổi đạt tới một mốc quan trọng khi xuất khẩu của họ từ mức 27% năm 1990 đã chiếm hơn một nửa của toàn thế giới. Thu nhập tăng cũng khiến họ nhập khẩu nhiều hơn (năm ngoái nhập khẩu của các nước mới nổi chiếm 47% tổng nhập khẩu thế giới). Các nước đang phát triển năm 2010 nhập khẩu tới hơn một nửa hàng xuất khẩu của Mỹ.

Các nền kinh tế mới nổi lại chiếm thêm một vị trí quán quân nữa khi trong năm ngoái thu hút hơn một nửa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Các công ty nước ngoài đang ngày càng bị hấp dẫn bởi thị trưởng nội địa tăng trưởng nhanh chóng cùng mức lương thấp ở các nước này.

Tỷ trọng vốn đầu tư ra nước ngoài của họ chỉ khiêm tốn ở mức 29% nhưng đang tăng nhanh, một phần là vì nguồn lực tài chính dồi dào của Trung Quốc cùng nhu cầu nguyên liệu thô của nước này.

Về tiêu thụ hàng hóa cơ bản thì các nước mới nổi thống trị hoàn cầu: họ tiêu thụ tới 60% năng lượng, 65% đồng và 75% thép. Dù vậy dư địa tăng trưởng vẫn còn nhiều. Các nước mới nổi tiêu thụ 55% dầu mỏ nhưng mức tiêu thụ dầu trên đầu người vẫn bằng chưa tới 20% mức tiêu thụ tại các nước giàu.

Năm nay các nước mới nổi sẽ chiếm tới hơn một nửa tổng đầu tư (từ mức 26% năm 2000). Ngược hẳn với các nước giàu, tỷ lệ đầu tư trên GDP của Trung Quốc và Ấn Độ trong thập kỷ qua ngày càng tăng. Năm 2010, Hoa Kỳ chỉ đầu tư có 16% GDP, so với con số 49% của Trung Quốc.

Tỷ trọng tiêu dùng của các nước mới nổi trên tổng tiêu dùng toàn cầu chỉ là 34% (tăng từ 24% năm 2000), phần nào là vì nhà ở và dịch vụ ở đây rẻ hơn ở các nước giàu. Với các công ty phương Tây thì các con số quan trọng hơn là các nước mới nổi chiếm 46% tổng doanh số bán lẻ toàn cầu, 52% tổng lượng tiêu thụ ô tô (tăng từ mức 22% năm 2000) và 82% số thuê bao di động.

Tỷ trọng của các nước mới nổi trong hai ngành thương mại và tài chính vẫn chưa tương xứng, nhưng họ đang tiến rất nhanh. Gần ¼ số công ty trong danh sách các công ty lớn nhất tính theo doanh thu Forbes Global 500 là của các nước mới nổi; năm 1995, tỷ trọng này chỉ là 4%.

Tỷ trọng của các nước mới nổi trong giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu toàn cầu đã tăng lên 35%, gấp ba lần so với tỷ trọng hồi năm 2000. Họ nắm giữ tới 81% dự trữ ngoại hối, nhưng tài sản của khu vực tư nhân vẫn thấp hơn nhiều so với các nước phát triển.

Nhà kinh tế Jonathan Anderson tại UBS ước tính rằng các nước mới nổi nắm giữ khoảng ¼ tài sản tài chính toàn cầu (tiền mặt, cổ phiếu và trái phiếu), tăng gấp đôi so với 10 năm trước.

Tỷ trọng thấp nhất của các nước mới nổi là nợ: họ chỉ chiếm có 17% tổng nợ chính phủ chưa thanh toán. Trong các năm tới, gánh nặng nợ nần sẽ kéo lùi tăng trưởng của các nước giàu. Triển vọng dài hạn của các nước mới nổi vẫn tươi sáng vì có ít nợ hơn, nhân khẩu học thuận lợi hơn và còn nhiều tiềm năng cải thiện năng suất.

Hai thập kỷ trước các mô hình kinh tế coi các nước đang phát triển là cái đuôi của con chó, các nước giàu muốn ve vẩy theo hướng nào cũng được. Nay tới lượt cái đuôi muốn hướng nào là con chó phải ve vẩy theo hướng đấy.

Cả tốc độ và tỷ trọng của họ đều lớn hơn nghĩa là chính các nước mới nổi đang là đầu tàu kéo toàn nền kinh tế thế giới, và tất nhiên kéo theo đó là cả lạm phát và giá hàng hóa cơ bản nữa.

Minh Tuấn

ngocdiep

Trở lên trên