TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Thế giới sợ Trung Quốc

10-01-2010 - 12:18 PM | Tài chính quốc tế

Thế giới sợ Trung Quốc

Việc Trung Quốc giành mất thị phần xuất khẩu thế giới khiến nhiều người hoảng sợ. Mọi chuyện thực tế không tệ như họ nghĩ.

Thị phần của Trung Quốc trên các thị trường thế giới tăng trong thời kỳ suy thoái kinh tế và sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.

Nhiều người thường bắt đầu năm mới bằng việc cam kết thay đổi những thói quen cũ của họ. Ngày 27/12/2009, ông Zhong Shan, một đại diện cao cấp của Bộ Thương mại cao cấp, tuyên bố Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng thêm thị phần trên thị trường xuất khẩu thế giới.

Số liệu công bố ngày 11/01/2010 dự kiến sẽ cho thấy xuất khẩu tháng 12/2009 sẽ cao hơn so với 1 năm trước sau 13 tháng suy giảm liên tiếp. Tính cả năm 2009, xuất khẩu Trung Quốc giảm 17% thế nhưng xuất khẩu những nước khác còn giảm sâu hơn.

Như vậy, Trung Quốc vượt qua Đức để trở thành nước xuất khẩu hàng hóa nhiều nhất thế giới, thị phần của Trung Quốc trên thị trường xuất khẩu thế giới tăng lên mức 10% từ mức 3% của năm 1999.

Trung Quốc cũng giành được một phần lớn hơn trên thị trường Mỹ. So với cùng kỳ năm trước, 10 tháng đầu năm 2009, Mỹ giảm 15% lượng nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, thế nhưng nhập khẩu từ những nước còn lại giảm 33%.

Thị phần của Trung Quốc nhờ thế lên mức kỷ lục 19%. Vì thế dù thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc giảm, Trung Quốc hiện nay chiếm một nửa thâm hụt với Mỹ, cao hơn so với mức 1/3 vào năm 2008.

Xung đột thương mại của Trung Quốc với những nước khác trên thế giới đang ngày một tăng cao.

Ngày 30/12/2009, Ủy ban thương mại quốc tế đã chấp nhận mức thuế mới với mặt hàng ống thép Trung Quốc mà Mỹ cho rằng Trung Quốc đã trợ cấp cho công ty sản xuất mặt hàng này một cách vô lý.

Đây là vụ việc trừng phạt lớn nhất từ Mỹ đối với Trung Quốc. Ngày 22/12/2009, chính phủ các nước thuộc châu Âu bỏ phiếu để tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với mặt hàng giầy dép nhập khẩu từ Trung Quốc thêm 15 tháng nữa.

Nhiều nước cho rằng lý do chính đằng sau việc thị phần xuất khẩu của Trung Quốc tăng lên chính là chính phủ Trung Quốc đã duy trì đồng nội tệ yếu. Thế nhưng còn nhiều lý do khác giúp xuất khẩu của Trung Quốc tăng trưởng tốt hơn so với các nước đối thủ khác trong thời kỳ suy thoái kinh tế.

Thu nhập thấp khiến người tiêu dùng tìm đến các hàng hóa giá rẻ, việc loại bỏ hạn ngạch dệt may vào tháng 1/2009 cho phép Trung Quốc tăng thị phần trên thị trường.

Trung Quốc đã có thể tăng thị phần của mình bằng cách nào? Trong khoảng thời gian 10 năm cho đến năm 2008, xuất khẩu của Trung Quốc tính theo giá trị USD tăng trưởng trung bình 23%, gấp đôi tốc độ tăng trưởng của thương mại thế giới.

Nếu xuất khẩu Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng ở tốc độ đó, Trung Quốc có thể chiếm 25% thị phần xuất khẩu thế giới trong 10 năm tới. Con số này như vậy cao hơn mức 18% của Mỹ ở đầu thập niên 1950. Con số này hiện chỉ còn 8%.

Xuất khẩu Trung Quốc dự kiến sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong thập kỷ tới khi nhu cầu hàng hóa từ những nước giàu tăng lên, và thị phần vì thế tăng lên. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong dự báo mới nhất về triển vọng kinh tế thế giới cho thấy xuất khẩu Trung Quốc năm 2014 sẽ chiếm 12% thương mại thế giới.

Thị phần của Trung Quốc ở mức 10% trong năm nay sẽ tương đương với Nhật ở thời kỳ đỉnh cao năm 1986. Thị phần của Nhật từ đó đến nay đã giảm xuống dưới mức 5%. Xuất khẩu Nhật chịu ảnh hưởng từ việc đồng yên tăng giá hơn 100% so với đồng USD trong khoảng thời gian từ năm 1985 cho đến năm 1988, nhiều nhà máy tại Nhật chuyển sang Trung Quốc.

Thị phần của 4 cường quốc, lãnh thổ xuất khẩu châu Á (Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan) cũng lên đỉnh cao 10 và sau đó đi xuống. Liệu xuất khẩu Trung Quốc có đương đầu với rào cản tương tự khi sức cạnh tranh yếu hay bảo hộ tăng cao?

Theo báo cáo năm 2009 của Quỹ tiền tệ quốc tế, nếu Trung Quốc tiếp tục phụ thuộc vào xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế như những năm gần đây, dùng xuất khẩu để tăng trưởng GDP hàng năm đạt 8%, thị phần của Trung Quốc trên thị trường xuất khẩu thế giới năm 2020 sẽ đạt mức 17%.

Để biết liệu điều này có khả thi không, các chuyên gia phân tích khả năng hấp thụ hàng hóa xuất khẩu Trung Quốc như thép, tàu biển và máy móc. Họ kết luận nếu Trung Quốc muốn đạt được mục tiêu đã đặt ra, họ cần giảm giá – mục tiêu này vẫn rất khó trở thành hiện thực dù bằng việc tăng năng suất hay giảm bớt lợi nhuận. Trong nhiều ngành, đặc biệt là ngành thép, lợi nhuận hiện nay vốn đã ở mức thấp.

Tương lai xuất khẩu của Trung Quốc không chỉ phụ thuộc vào những ngành hiện tại mà còn phụ thuộc vào những sản phẩm có giá trị cao hơn như chip máy tính hay ô tô. Hàng xuất khẩu Nhật cũng đã nâng lên trong chuỗi giá trị, thế nhưng việc liệu điều này đã đủ để hỗ trợ tăng thị phần vẫn còn là câu hỏi lớn. Trung Quốc có khả năng kiểm soát vốn giúp ngăn tỷ giá tăng mạnh như Nhật thập niên 1980.

Những gì Trung Quốc đang làm cuối cùng cũng sẽ khiến đồng nhân dân tệ tăng giá và Trung Quốc sẽ làm điều này một cách từ từ.

Quy mô của kinh tế Trung Quốc cũng mang lại sự khác biệt. Trong nội tại, kinh tế Trung Quốc bao gồm vài nền kinh tế với mức lương khác nhau. Khi Nhật chuyển hướng sang những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao hơn, năng suất tăng giúp mức lương tăng, những ngành nghề cũ như dệt may trở nên mất sức cạnh tranh. Tại Trung Quốc, bởi những nhà máy khu vực duyên hải chuyển sâu vào nội địa nơi chi phí thấp hơn, hậu quả Trung Quốc vẫn duy trì được sức cạnh tranh trong nhiều ngành công nghiệp.

Phía nước ngoài chỉ trích sự thống trị của Trung Quốc trong xuất khẩu ngày một nhiều. Ông Paul Krugman, kinh tế gia đoạt giải Nobel năm 2008, trong bài báo gần đây trên Nytime nhận xét với việc duy trì đồng nội tệ thấp để kích thích xuất khẩu, Trung Quốc đã chiến thắng, ông cho rằng những nước nạn nhân của việc Trung Quốc chạy đua mở rộng thị phần xuất khẩu sẽ có thể tiến hành hành động bảo hộ.

Từ phía Bắc Kinh, mọi chuyện có vẻ rất khác, tính trong tương quan với GDP, xuất khẩu đóng góp 36% vào GDP năm 2007 và đến năm 2008, con số này chỉ còn lại 24%. Thặng dư tài khoản vãng lai giảm từ mức 11% GDP xuống mức 6% GDP vào năm 2007 và đến năm 2008 chỉ còn lại 3% GDP. Nói cách khác, thay cho việc trở thành gánh nặng lên nhu cầu toàn cầu, Trung Quốc giúp kéo kinh tế thế giới ra khỏi suy thoái năm ngoái.

Thế nhưng những chuyên gia nước ngoài cho đến nay mới chỉ nhìn vào một khía cạnh của vấn đề. Nhập khẩu Trung Quốc phục hồi nhanh hơn so với xuất khẩu, trong khoảng thời gian 1 năm tính đến tháng 11/2009, nhập khẩu tăng trưởng 27% trong khi xuất khẩu vẫn tiếp tục đi xuống.

Xuất khẩu của Mỹ vào Trung Quốc (thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của nước này) trong khoảng thời gian 1 năm tính đến hết tháng 10/2009 tăng trưởng 13%, cùng lúc đó xuất khẩu từ Mỹ sang Canada và Mehico giảm 14%.

Một số chuyên gia dự đoán thặng dư thương mại Trung Quốc sẽ tăng trở lại trong năm nay trừ khi chính phủ đưa ra một số chính sách mạnh tay như việc định giá lại đồng nhân dân tệ.

Tuy nhiên, ông Chris Wood, chuyên gia phân tích tại công ty môi giới CLSA, cho rằng so với Mỹ Trung Quốc đang làm nhiều hơn cho việc cân bằng lại thế giới.

Sự cân bằng toàn cầu cần Trung Quốc chi tiêu nhiều và Mỹ tiết kiệm nhiều hơn. Trung Quốc hiện đang đưa ra nhiều biện pháp để kích thích tiêu dùng nội địa (thông qua kế hoạch kích cầu cho đến hỗ trợ mua ô tô, hàng tiêu dùng bền. Người Mỹ trong khi đó chưa hay đổi nhiều thói quen của họ.

Tăng trưởng tiêu dùng và nhập khẩu của Trung Quốc sẽ không thể khiến áp lực từ bảo hộ atwng cao, tuy nhiên thị phần của Trung Quốc trên thị trường xuất khẩu thế giới sẽ khiến thế giới phải lưu tâm nhiều hơn. Nhu cầu từ phía nước ngoài sẽ khiến đồng nhân dân tệ được điều chỉnh mạnh. Năm mới, vấn đề của năm cũ sẽ được giải quyết.

Theo Dân Trí/Economist


ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên