TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Thoái vốn khỏi Trung Quốc không đơn giản

03-07-2009 - 16:06 PM | Tài chính quốc tế

Thoái vốn khỏi Trung Quốc không đơn giản
Chi nhánh ngân hàng Trung Quốc tại Thượng Hải. Ảnh: Ngọc Diệp

Khi các ngân hàng phương Tây bán cổ phiếu tại các ngân hàng lớn của Trung Quốc, tham vọng lợi nhuận của họ tại thị trường lớn nhất thế giới đã tiêu tan.

Bốn năm về trước, khi Bank of America (BoA) đang đàm phán mua cổ phiếu tại Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, các nhà tư vấn đầu tư đặt cho nó cái tên “Dự án vàng ròng”.

 

Vậy mà mối quan hệ “chiến lược” Mỹ-Trung hóa ra chẳng mấy hấp dẫn. BoA nằm trong làn sóng các định chế tài chính nước ngoài bán cổ phần tại các đối tác Trung Quốc ngay sau thời hạn giải chấp.

 

Việc bán cổ phiếu, chủ yếu do nhu cầu vốn khẩn thiết của các ngân hàng ngoại, khiến Trung Quốc giận dữ, làm người ta thêm lo nó sẽ ngăn cản thị phần dành cho các ngân hàng nước ngoài tại thị trường tài chính đại lục trong những năm tới.

 

“Những định chế đã mua cổ phiếu tại ngân hàng Trung Quốc với lời hứa giúp họ cải thiện khả năng quản lý rủi ro rồi lại tháo chạy sẽ không được người Trung Quốc đánh giá tích cực,” Andrew Crockett, Chủ tịch JPMorgan Chase International và cựu Chủ tịch Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, ngân hàng của các ngân hàng trung ương, nói.

 

Một số còn đi xa hơn so với đơn giản chỉ giảm phần nắm giữ. Ngân hàng Anh Bank of Scotland (RBS), tháng 1 vừa qua bán toàn bộ 2,4 tỷ USD cổ phiếu Bank of China (BoC) để tăng vốn, đang xúc tiến bán lại hoạt động thương mại và bán lẻ của mình tại đại lục.

 

Giới quan chức và ngân hàng tại Bắc Kinh và Thượng Hải cảnh báo rằng, các tập  đoàn như RBS sẽ phải vất vả giành lại chỗ  đứng của mình nếu trong tương lai họ muốn quay lại một trong những thị trường ngân hàng quan trọng nhất trong thập kỷ tới. Thực tế, xây dựng hình ảnh tại Trung Quốc là cực kỳ quan trọng, quyết định tới việc ai sẽ nằm trong nhóm các định chế tài chính toàn cầu thực sự.

 

BoA và RBS nằm trong số những ngân hàng, gồm cả UBS và Citigroup, trong hai năm 2005 và 2006 đã chi hàng chục tỷ USD tích lũy cổ phiếu tại các ngân hàng lớn nhất Trung Quốc. Hệ thống ngân hàng quốc doanh về mặt kỹ thuật đã không còn trả được nợ, và nợ xấu cũng như tập quán cho vay cổ lỗ của nó vẫn còn là điều bí ẩn.

 

Chính quyền Trung Quốc nghĩ  rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ giúp tái cấp vốn cho ngân hàng của mình, hiện đại hóa hoạt động quản lý rủi ro và trợ giúp cho đợt IPO của các ngân hàng hàng đầu.

 

Lúc ấy, các ngân hàng bán lẻ nước ngoài, kể cả số đã bén rễ sâu tại khu vực này như HSBC, chưa được phép mở chi nhánh 100% vốn tại đại lục, việc này hạn chế khả năng đưa ra các sản phẩm bằng đồng bản tệ cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Họ xem khoản đầu tư vào các ngân hàng nội địa như một dạng liên doanh ở các lĩnh vực như thẻ tín dụng, sẽ giúp họ tiếp cận với hàng chục triệu khách hàng mới.

 

Nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra ở phương Tây và tình hình tài chính chuyển hướng đột ngột. Ngày nay ba ngân hàng lớn nhất thế giới tính theo giá trị vốn hóa thị trường đều là của Trung Quốc và ít ai ở Bắc Kinh quan tâm đến lời đề nghị của những người khổng lồ từ Phố Wall, LondonZurich.

 

“Khía cạnh chiến lược trong những thỏa thuận này đã luôn bị cường điệu,” Lonnie Dounn, người năm 2005 được bổ nhiệm làm Giám đốc tín dụng tại Bank of China, người nước ngoài đầu tiên giữ các chức vụ chủ chốt tại ngân hàng Trung Quốc, nói. “Ngân hàng Trung Quốc không muốn ngân hàng nước ngoài dành mất những khách hàng tốt nhất và ngân hàng nước ngoài cũng không có chiến lược rõ ràng cho thị trường Trung Quốc,” ngài Dounn nói, nay ông không còn ở lại BoC.

 

Dù vậy trong khi các nhân tố  chiến lược đều chỉ là chuyện hão huyền thì  vụ làm ăn này đã giúp cả hai bên hưởng lợi. Các nhà đầu tư nước ngoài lãi gấp 3, trong khi ngân hàng Trung Quốc đều niêm yết thành công trên thị trường chứng khoán.

 

Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc (ICBC), giờ là ngân hàng lớn nhất thế giới theo giá trị tiền gửi, huy động được 22 tỷ USD khi niêm yết ở cả Hồng Kông và Thượng Hải vào tháng 10/2006, giờ vẫn là kỷ lục cho một đợt IPO.

 

Nhà đầu tư chiến lược của ICBC là Goldman Sachs, American Express và nhà bảo hiểm Đức Allianz. Tháng trước, Goldman bán 1/5 khoản đầu tư lấy 1,9 tỷ USD, 5 tuần sau khi Amex và Allianz huy động số vốn tương đương bằng cách bán một nửa cổ phiếu. BoA bán 10% cổ phiếu Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (CCB) lấy 10 tỷ USD. Họ vẫn giữ lại 10% nữa, phần lớn trong số đó BoA phải giữ cho đến năm 2011.

 

Vậy sự giận dữ của Bắc Kinh, mà thực ra là sự phản tỉnh của công chúng trước ngành ngân hàng kiểu phương Tây có ảnh hưởng tiêu cực đến các định chế nước ngoài vẫn muốn phát triển ở đại lục?

 

Tháng 12/2006, ngân hàng nước ngoài cuối cùng cũng được phép mở chi nhánh 100% vốn tại đại lục. Sự thay đổi này cho phép họ cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ qua các công ty con tại địa phương. Ngân hàng nước ngoài hiện nay chỉ chiếm 2,2% tổng tài sản ngân hàng cả nước, dù con số này cao hơn tại các thành phố lớn nhưng vẫn tăng chậm.

 

Những ngân hàng như HSBC và Citigroup đã xây dựng mạng lưới chi nhánh tập trung ở các trung tâm đô thị lớn nhất. Các tập đoàn như RBS lại lựa chọn hình thức các hợp đồng liên doanh để mở rộng mảng thẻ tín dụng và quản lý tài sản. Tuy vậy, những liên doanh như thế có kết quả trái ngược, hai bên đều nghi ngờ động cơ của nhau.

 

“Hai vũ khí truyền thống ngân hàng ngoại đã sử dụng để đột phá vào thị trường ngân hàng bán lẻ Châu Á , quản lý tài sản và thẻ tín dụng, khó sử dụng hơn ở Trung Quốc,” Emmanuel Pitsilis, đối tác cao cấp tại Hong Kong của hãng tư vấn McKinsey nói. Gửi gắm tài sản gia đình vào một tay quản lý ngoại quốc vẫn quá xa vời đối với nhiều người Trung Quốc, khi mà cuộc khủng hoảng đã làm giảm sự hấp dẫn cũng như số sản phẩm của các ngân hàng phương Tây.

 

Trung Quốc thiếu hệ thống an sinh xã hội và tỷ lệ tiết kiệm đủ cao để chi trả cho chi phí y tế và giáo dục chưa dự tính được. Tương đối ít người không cân đối nổi thẻ tín dụng hàng tháng vì sợ phải trả phí cao.

 

Hầu hết họ đều thích thẻ ghi nợ hơn, điều này có lợi cho các ngân hàng nội địa với mạng lưới chi nhánh khổng lồ vì họ thu phí theo năm. Dự đoán từ RBS và nhiều nguồn khác rằng số thẻ tín dụng sẽ tăng tới hàng trăm triệu trong vòng một thập kỷ giờ có vẻ đã đổ bể.

 

Các ngân hàng nước ngoài cũng rất vất vả để tạo được ảnh hưởng. Cho đến gần đây mới chỉ có Goldman Sachs và UBS được phép lập công ty liên doanh chứng khoán được giao dịch cổ phiếu và tư vấn IPO.

 

Dù tốc độ tăng trưởng thấp, thị trường Trung Quốc vẫn là cơ hội lớn, nếu tình hình và luật lệ cho phép. Theo McKinsey, 1/3 tăng trưởng doanh thu dịch vụ tài chính toàn cầu trong giai đoạn 2007-12 đến từ Trung Quốc, hay gần 200 tỷ USD. “Ngân hàng nước ngoài có lẽ sẽ thành công hơn khi tập trung vào các sản phẩm chuyên biệt thay vì cố cạnh tranh về mặt quy mô với ngân hàng nội,” ngài Pitsilis nói.

 

Các nhà phân tích nói các sản phẩm liên quan đến doanh nghiệp và ngân hàng đầu tư vẫn là mảng thu lợi cho ngân hàng ngoại, bao gồm những hoạt động phục vụ cho số lượng công ty đa quốc gia đông đảo tại Trung Quốc, ví dụ như quản lý tiền mặt và ngoại hối, khu vực ngân hàng nội vẫn tương đối yếu.

 

Những tập đoàn ngoại tan tác vì khủng hoảng tài chính và được chính phủ của họ giải cứu như RBS, Citi và BoA khó có thể dành nguồn lực đáng kể để sớm mở rộng kinh doanh tại Trung Quốc.

 

Đây có thể là cơ hội cho các đối thủ như HSBC và Standard Chartered, những ngân hàng kinh doanh quy củ và cẩn thận hơn. Sự cộng tác giữa HSBC với Ngân hàng Thông tin được ca ngợi là sự hợp tác kiểu mẫu, ngân hàng phương Tây giúp cải thiện khả năng quản lý rủi ro, marketing và công nghệ cho ngân hàng nội.

 

Sự thay đổi tôn ty trật tự đã giúp các ngân hàng Canada, Australia, Tây Ban Nha và Italia mở rộng ra toàn cầu, và ngân hàng hàng đầu của các quốc gia này đều hiện diện quá  ít ở Trung Quốc, Ở Mỹ, JPMorgan Chase cũng đã có một cuộc khủng hoảng tài chính “tốt”, dù ít xuất hiện trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư và bán lẻ ở đại lục. “Chúng tôi lạc quan về thị trường Trung Quốc trong dài hạn, nhưng hiện giờ chúng tôi không việc gì phải hấp tấp,” ngài Crockett tại JPMorgan nói. “Tuy vậy, trong dài hạn, chúng tôi sẽ dẫn đầu.”

 

Nhưng những ngân hàng JPMorgan hay Banco Santander của Tây Ban Nha có được phép mở rộng ở Trung Quốc hay không phụ thuộc vào tình hình chính trị ở Bắc Kinh. Các nhà hoạch định chính sách không mấy ấn tượng với trạng thái nửa sống nửa chết của hệ thống ngân hàng phương Tây như nhà điều tiết ngành ngân hàng hàng đầu Liu Mingkang phát biểu, do vay nợ quá nhiều và chỉ chú trọng vào lương thưởng ngắn hạn.

 

“Chỉ mới 4-5 năm trước, ngân hàng Trung Quốc đều bị gọi là lũ vô dụng. Giờ họ đang tự hỏi xem mình sẽ học được gì từ những ngân hàng phương Tây,” David Eldon, cựu Chủ tịch HSBC Châu Á nói.

 

Sau khủng hoảng, giới ngân hàng phương Tây nghĩ chính quyền Trung Quốc sẽ cực kỳ cẩn trọng khi cho phép thêm ngân hàng ngoại tiếp cận thị trường hay mở rộng mạng lưới chi nhánh và số sản phẩm.

 

Điều duy nhất có thể khiến các nhà điều tiết dễ tính hơn là nguy cơ mở rộng ra nước ngoài của chính các ngân hàng Trung Quốc bị đe dọa. Các ngân hàng Trung Quốc muốn mở rộng ra tòan cầu để phục vụ mậu dịch xuyên biên giới và đang để mắt đến nhiều ngân hàng nhỏ ở Châu Á.

 

Thượng Hải cũng đang có kế hoạch biến mình thành trung tâm tài chính toàn cầu, một vị thế không thể có được nếu không có sự hiện diện của các định chế tài chính ngoại quốc. “Ngân hàng ngoại ở Trung Quốc cho rằng thị phần hạn chế của họ phải mở rộng đáng kể nếu Thượng Hải đạt được mục tiêu trở thành trung tâm tài chính toàn cầu,” Mervyn Jacob, tư vấn viên dịch vụ tài chính hàng đầu cho Trung Quốc nói.

 

Ngân hàng nội mấy tháng qua cho vay ào ạt khi chính phủ nỗ lực kích thích nền kinh tế, lại càng xói mòn thêm thị phần của các đối thủ ngoại ở các khu vực như  cho vay doanh nghiệp. Bất chấp tăng trưởng kinh tế  thấp và hạn chế tại các khu vực quan trọng như thép, bất động sản và xuất khẩu, các ngân hàng hàng đầu đại lục vẫn tự hào về chất lượng tài sản và lợi nhuận của mình.

 

Nhiều người tin rằng kịch bản toàn màu hồng này không thể kéo dài lâu. Nhiều người trong giới ngân hàng cho rằng, trong khi Bắc Kinh chẳng dấu nổi hả hê trước sự sụp đổ của mô hình ngân hàng Anglo-Saxon, chẳng mấy chốc họ sẽ lại phải hướng sang phương Tây để tìm kiếm vốn và công nghệ.

 

Theo FT

 

Minh Tuấn

ngocdiep