TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Thời của các “ông lớn”

29-08-2009 - 08:33 AM | Tài chính quốc tế

Thời của các “ông lớn”

Sau hàng thập kỷ thoái lui, mô hình tập đoàn lớn đang thịnh hành hơn bao giờ hết.

Năm 1996, Tổng thống Bill Clinton từng có một tuyên bố nổi tiếng “kỷ nguyên chính quyền điều tiết mạnh mẽ đã chấm dứt”. Đáng lẽ ông cũng nên nói thêm kỷ nguyên của các tập đoàn lớn cũng đã qua.

Những tổ chức định hình nền chủ nghĩa tư bản trong phần lớn thế kỷ 20 khi ấy đang trên đà thoái lui, bị những kẻ đột kích doanh nghiệp tấn công, bị cổ đông quấy rầy và bị những nhà đầu tư liều lĩnh vượt mặt.

Trong số những thương hiệu vĩ đại, Pan Am biến mất, số khác chỉ tồn tại được nhờ thu hẹp quy mô: từ năm 1990 đến năm 1995, IBM sa thải 122.000 người, chiếm ¼ số nhân công.

Ai cũng nghĩ rằng tương lai nằm trong tay những doanh nghiệp mới như Yahoo!, cuối năm 1998, công ty với chỉ 637 nhân viên này có giá trị vốn hóa thị trường tương đương với 230.000 con người tại Boeing.

Tỷ lệ đóng góp cho GDP của các tập đoàn công nghiệp lớn từ năm 1974 đến năm 1998 giảm một nửa, từ 36% xuống 17%.

Giờ đây, có lẽ gió đang đổi chiều, trong một chừng mực nào đó là nhờ cuộc khủng hoảng tài chính. Nó đã tàn phá thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, nguồn sống của các công ty mới ra đời.

Chính quyền giải cứu các công ty họ cho là quá lớn để sụp đổ như Citigroup và General Motors. Cuộc suy thoái đè nặng lên các công ty nhỏ, ít liên kết. Nhưng còn có những lý do khác mang lại sự tự tin cho các tập đoàn lớn sau hàng thập kỷ.

Lớn cũng tốt…

Đương nhiên, các tập đoàn lớn không bao giờ biến mất và không phải công ty nào mới thành lập cũng thành công: Netscape và Enron hứa sẽ làm nên một cuộc cách mạng nhưng rút cục đều lâm vào cảnh phá sản. Tuy vậy, cán cân vẫn dịch chuyển theo hướng có lợi cho các công ty nhỏ.

Cơn bùng nổ doanh nghiệp mới được tiếp thêm sức mạnh bởi hai bước ngoặt. Quá trình phi luật lệ hóa mở cửa các thị trường được bảo hộ.

Một số tập đoàn bị chia tách như AT&T, số khác bị những người mới đến chiếm mất thị phần. Sự xuất hiện của máy tính cá nhân vào thập kỷ 70 và Internet vào thập kỷ 90 tạo ra cả một làn sóng khởi nghiệp thành công.

Steve Jobs và Steve Wozniak thành lập Apple năm 1976 trong gara nhà Job. Microsoft và Dell Computer đều được thành lập bởi những người ở độ tuổi thành niên. Larry Page và Sergey Brin cho ra đời Google ở ký túc xá ĐH Stanford.

Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính khiến phi luật lệ hóa không còn được ưa chuộng. Đạo luật Sarbanes-Oxley ra đời sau vụ sụp đổ của Enron tăng gánh nặng luật pháp lên mọi doanh nghiệp, nhưng có những thứ tập đoàn lớn gánh được còn công ty nhỏ thì không.

Nhiều ngành công nghiệp thời thượng hiện nay chỉ là sân chơi cho các công ty lớn thay vì ngành IT. Nghiên cứu công nghệ sinh học rất đắt đỏ và chậm thu hồi vốn.

Có lý do khiến cán cân giờ nghiêng về phía các tập đoàn lớn. Thứ nhất là lo ngại ngày càng tăng về các nhà thầu phụ.

Thương hiệu của các công ty đồ chơi và thức ăn vật nuôi có thể bị hủy hoại nếu các nhà cung cấp (đặc biệt là ở Trung Quốc) giao hàng kém chất lượng.

Chu trình sản xuất của các tập đoàn công nghiệp lớn có thể bị gián đoạn chỉ vì nhà thầu không đáp ứng được tiêu chuẩn. Boeing, từng đi đầu trong việc thuê làm ngoài, nay buộc phải tiếp quản những nhà cung cấp đang gặp khó khăn.

Thứ hại là sự nổi lên của các công ty “khởi nghiệp” trước đây. Những tập đoàn này vừa giảm được tối đa chi phí do kích cỡ (ví dụ như cơ chế lãnh đạo phức tạp) vừa tận dụng được lợi thế của mình (như thị trường rộng và thu hút nhiều nhân tài).

Cisco System đi tiên phong trong việc sử dụng công nghệ video để liên lạc giữa các nhân viên. IBM đã tiến hành vài bài tập cho toàn bộ 150.000 nhân viên, về các vấn đề ví dụ như “máy tính xanh”. Disney đã hấp thụ thành công tính sáng tạo của Pixar.

Không nhất thiết phải lo ngại rằng các tập đoàn lớn sẽ tiêu diệt cạnh tranh. Lớn không phải lúc nào cũng xấu cũng như nhỏ không phải khi nào cũng đẹp.

Đa phần các doanh nhân trẻ mơ ước biến công ty của mình thành người khổng lồ (hay ít nhất là làm giàu nhờ bán chúng cho những người khổng lồ).

Có một sự cộng sinh giữa các công ty lớn và nhỏ. Không dựa vào ngân quỹ khổng lồ của các tập đoàn lớn, các công ty công nghệ sinh học nhỏ khó mà tồn tại.

Hệ thống sinh thái – kinh tế thành công nhất sẽ gồm nhiều công ty cả lớn lẫn nhỏ. Nền kinh tế Mỹ năng động hơn Châu Âu không chỉ vì các công ty dễ ra đời mà còn cả dễ phát triển hơn.

Chỉ 5% số công ty thành lập sau năm 1980 tại EU lọt vào danh sách 1.000 doanh nghiệp lớn nhất theo giá trị vốn hóa thị trường. Ở Mỹ, con số này là 22%.

…nhưng vấn đề không phải là lớn hay nhỏ

Những tập đoàn lớn hồi sinh có thể là cơ hội cho nền kinh tế thế giới, nhưng chỉ với các doanh nhân và nhà hoạch định chính sách khôn ngoan.

Không nên sùng bái kích cỡ trong kinh doanh, đặc biệt là khi đầu tư trái ngành trái nghề. Mô hình tập đoàn có thể hấp dẫn khi nguồn tiền mặt khan hiếm. Nhưng thời kỳ đó sẽ không kéo dài lâu. Các tập đoàn lớn thành công nhất thường tập trung vào mảng kinh doanh chính của mình.

Các nhà hoạch định chính sách không nên che chở cho các siêu tập đoàn nhưng cũng nên tránh luôn ngờ vực họ. Thật sai lầm khi chính quyền lãng phí nguồn lực để hỗ trợ cho những tập đoàn như General Motors. Còn đáng tiếc hơn nếu họ được quyền chọn ai sẽ trở thành tập đoàn lớn.

Cách tốt nhất là dỡ bỏ các rào cản ngăn doanh nhân khởi nghiệp cũng như đưa công ty nhỏ của họ trở thành người khổng lồ.

Theo Economist

Minh Tuấn


ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên