TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tín hiệu sáng sủa hơn về thương mại thế giới

26-07-2009 - 10:52 AM | Tài chính quốc tế

Tín hiệu sáng sủa hơn về thương mại thế giới

Sức cầu và giảm hàng tồn kho, chứ không phải bảo hộ, mới là nguyên nhân chính cho sự sụt giảm thương mại đầu năm.

Liệu thương mại toàn cầu có phục hồi nhanh chóng và ổn định? Câu trả lời trước hết phụ thuộc vào việc cầu thế giới tăng nhanh và bền vững ra sao. Câu trả lời cũng phụ thuộc vào hai yếu tố: 

Thứ nhất, đâu là câu trả lời cho việc thương mại giảm mạnh vào đầu năm nay. Nếu nguyên do chính là do sức cầu thế giới sụt giảm như đa phần các nhà kinh tế nghĩ, thương mại sẽ phục hồi mạnh khi sức cầu tăng. Nhưng nếu sự sụt giảm này là do việc gia tăng chủ nghĩa bảo hộ, thương mại sẽ chậm bật lên. Các cuộc khủng hoảng trước cũng cho thấy, những biện pháp như thế thực thi dễ hơn bãi bỏ. 

Thứ hai là các yếu tố chính trị thương mại toàn cầu. Các chính phủ tiếp tục chịu sức ép dựng nên hàng rào thương mại vì tỷ lệ thất nghiệp vẫn tăng, trong khi ngân sách và việc mở rộng các chính sách tiền tệ đã gần đến giới hạn. Lãnh đạo các nền kinh tế lớn nhất thế giới lăp đi lặp lại cam kết thúc đẩy vòng đàm phán thương mại Doha đã bế tắc hơn 7 năm nay và nhiều lần suýt đổ vỡ. Trong khi làm vậy, họ đã tự đặt mình trước một bài kiểm tra quan trọng. 

Không phải do bảo hộ 

Thời gian suy thoái và sự ổn định của thương mại, cũng như cơ cấu ngành và địa lý, cho thấy sức cầu và giảm hàng tồn kho, chứ không phải bảo hộ, mới là nguyên nhân chính.  

Vì dự tính trước tăng trưởng sẽ chậm lại, các tập đoàn giảm lượng hàng tồn kho, khiến thương mại thu hẹp nhanh. Nhưng cũng có thể trong thời suy thoái, các chính phủ quay sang các chính sách bảo hộ, làm tăng độ nhạy cảm của thương mại khi sức cầu sụt giảm. 

WTO chỉ ra rằng nhập khẩu của Mỹ, nền kinh tế lớn đầu tiên rơi vào suy thoái, năm ngoái cũng giảm mạnh nhất từ trước tới nay.  

Dữ liệu của Mỹ và Nhật cho thấy thương mại hàng tiêu dùng như quần áo và thực phẩm, vốn có sức cầu bền vững và việc tiêu thụ không thể trì hoãn lâu dài như các hàng hóa lâu bền, giảm ít nhất trong số các danh mục sản phẩm chính.  

Các nhà xuất khẩu chuyên môn hóa vào hàng hóa lâu bền và hàng hóa vốn, như Đức, chịu tác động nặng nề hơn. Kể cả với hàng tiêu dùng rẻ tiển, ban đầu cũng giảm mạnh do các nhà bán lẻ muốn giảm mạnh hàng tồn kho. 

Sự khác biệt trong xu hướng thương mại và dịch vụ cũng ủng hộ thuyết giảm hàng tồn kho. Aaditya Mattoo và Ingo Borchert, nhà kinh tế tại WB, đề cập đến khả năng phục hồi tương đối của thương mại dịch vụ, không giống hàng hóa do không thể cất trữ và do đó miễn nhiễm trước hiệu ứng hàng tồn kho.  

Tháng 4, nhập khẩu hàng hóa của Mỹ giảm 34% so với năm ngoái, xuất khẩu giảm 27%. Tuy vậy, cả xuất và nhập khẩu dịch vụ chỉ giảm 10%. Nhập khẩu dịch vụ kinh doanh, chuyên nghiệp và kỹ thuật (bao gồm dịch vụ công nghệ thông tin thuê làm ngoài tại những nơi như Ấn Độ) quý I/2009 cao hơn cùng kỳ năm ngoái 4%. 

Thương mại xuống tới đáy cho thấy nền kinh tế thế giới đã suy thoái chậm lại. Hàng tồn kho có thể đã giảm tối đa. Dựa vào độ nhạy cảm với sản lượng, một sự phục hồi thương mại ấn tượng không phải điều không thể. Trong khi đó, chủ nghĩa bảo hộ không hề dữ dội. 

Cơ hội cho vòng đàm phán Doha 

Một số người đã hoài nghi giá trị của vòng đàm phán vì nó không cam kết giảm mạnh thuế quan thực tế, mà chỉ nhắm đến giới hạn tăng thuế. Nhưng có những người lạc quan hơn.  

Ông Hoekman, chuyên gia về thương mại của World Bank tin rằng các quốc gia nhận ra rằng không thể coi thường thị trường mở, và chỉ một số ít muốn mang tiếng vi phạm cam kết quốc tế. Đó là khía cạnh “bảo đảm” cho vòng đàm phán Doha hấp dẫn hơn so với chỉ vài tháng trước. 

Nhưng cuộc khủng hoảng cũng cho thấy hạn chế của các quy tắc đa phương hiện nay. Nguyên tắc của WTO về mua bán hàng hóa công cộng không hạn chế chính quyền địa phương phân biệt đối xử với nhà cung cấp nước ngoài. Các nước chưa ký Hiệp định về mua sắm chính phủ tự do theo đuổi các chính sách phân biệt đối xử.  

Điều này là cơ sở để ông Hoekman lập luận rằng một lợi ích nữa nếu kết thúc vòng đàm phán Doha là mở ra cơ hội đàm phán để thiết lập các quy tắc trong các lĩnh vực có khả năng bảo hộ như điều tiết khu vực tài chính quốc tế, mua sắm chính phủ và thương mại dịch vụ. 


Theo Economist
Minh Tuấn


ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM