TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Trả giá đắt cho tăng trưởng nóng

03-04-2011 - 07:35 AM | Tài chính quốc tế

Trả giá đắt cho tăng trưởng nóng

30 năm qua, một loạt chính quyền và quốc hội phá hủy hệ thống quy định cho lĩnh vực công và tư nhân từng được áp dụng cho hơn một thế kỷ rưỡi khủng hoảng kinh tế.

Sự pha trộn hiệu quả của các mối quan tâm xã hội và kinh tế mà Simons là tiên phong có thể không phù hợp với một nền kinh tế hiện đại, nhưng mối lo về những nguy cơ của tập trung sức mạnh kinh tế vẫn là một vấn đề mà Trường phái Chicago đã bỏ qua. Và giờ đây, chúng ta đang phải trả giá.

Trong hơn 30 năm qua, một loạt chính quyền và quốc hội đã phá hủy một hệ thống quy định cho lĩnh vực công và tư nhân từng được áp dụng cho hơn một thế kỷ rưỡi khủng hoảng kinh tế liên tiếp, dù những quy định này nhằm bảo vệ nền kinh tế Mỹ.

Nhiều người tin rằng chiến thắng của Trường phái Chicago thông qua cuộc cách mạng Reagan-Thatcher báo hiệu tăng trưởng kinh tế thực sự và mạnh mẽ. Chúng ta đã nghe nhiều lần trong những tháng gần đây rằng các vấn đề hiện nay là kết quả của sự thái quá, của những ý tưởng cở bản tốt nhưng bị lạm dụng, hay nói một cách tế nhị hơn, đó là kết quả của một thời kỳ chạy đua giống bao thời kỳ khác. Thực tế của niềm tin này giải thích cho hình ảnh của Trường phái Chicago, cả trước và trong khủng hoảng hiện nay.

Có thể điều đó là đúng. Nếu kiểm tra lại số liệu của ¼ thế kỷ, từ năm 1982-2007, một số người có thể coi đây là một thời hoàng kim. Nhưng một số người có thể nghĩ khác, rằng tự điều tiết chưa bao giờ hoạt động, và đặc biệt là các điều tiết tài chính bị dỡ bỏ từ đầu năm 1980 đã không tạo ra một thời kỳ thành công lớn về kinh tế. Thay vào đó là hố sâu ngày càng lớn ngăn cách giàu và nghèo, tham nhũng thông qua thuế xuất khẩu, và thất bại hoàn toàn trong đầu tư thỏa đáng vào cơ sở hạ tầng...

Đạo luật về thể chế ký gửi tiền và điều tiết và kiểm soát tiền tệ, một cuộc "cải cách" lớn của ngành ngân hàng trong năm 1980, cuối thời chính quyền Carter, đã lần đầu tiên cho phép các ngân hàng sáp nhập và hoạt động vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Đạo luật này cũng cho phép dỡ bỏ dần dần mức trần lãi suất (hoàn thành vào năm 1986). Việc này đã gây khó khăn cho tiết kiệm và ngành công nghiệp cho vay, vốn có thể cung cấp cho những người gửi tiền một mức lãi suất cao hơn để tiết kiệm. Luật năm 1982 đã bù lại những thiệt hại năm 1980, kết thúc bằng sự tan rã của ngành công nghiệp này và một gói trợ cấp của chính phủ liên bang trị giá 500 tỷ USD năm 1989.

Điều này đương nhiên có tiền lệ. Trên thực tế, hầu như năm nào cũng có trợ cấp liên bang trong những năm 70-80 của thế kỷ trước: Penn Central (1970), Lockheed (1971), Franklin National Bank (1974), New York City (1975), Chrysler (1980) và Continental Bank of Illinois (1984). Tất cả các gói trợ cấp này đều gây tranh cãi, nhưng tất cả đều tránh được hiệu ứng đô mi nô, từ đó ngăn cản nguy cơ đối với toàn bộ nền kinh tế. Sự khác biệt giữa các hành động những năm 1970 và 1980 và những gói trợ cấp ngân hàng mới đây là, từ năm 1999, luật Liên bang sửa đổi cho phép tăng trưởng của ngân hàng lớn đến mức thất bại của bất cứ ngân hàng nào hầu như đều tự động hủy hoại độ an toàn tài chính của đất nước. Vấn đề là học thuyết Trường phái Chicago, theo đó các công ty thất bại có thể dễ dàng bị thay thế bởi các công ty có năng lực hơn mà không gây các thiệt hại khác cho nền kinh tế, đã chứng tỏ là sai lầm từ rất lâu trước cuộc khủng hoảng hiện nay.

Hơn nữa, nền kinh tế Mỹ không ổn định đến mức như vậy trong ¼ thế kỷ hoàng kim giả định như mọi người tưởng. Ngày 19/10/1987, chỉ số Dow Jones đã mất 23 điểm, mức sụt giảm lớn nhất trong một ngày. Và nếu nền kinh tế trong nước của Mỹ dường như đang lảo đảo, thì việc nhanh chóng thông qua mô hình thị trường tự do kiểu Mỹ sau khi kết thúc chiến tranh Lạnh đã khiến nhiều nền kinh tế nước khác trở nên bất ổn hơn, như Mexico, Đông Á và Nga. Cuộc khủng hoảng kinh tế của Nga năm 1998 đã nhân đôi mặt trái của nền kinh tế Mỹ, hạ bệ công ty Quản lý vốn dài hạn của Mỹ từng được ngưỡng mộ rộng rãi. Do một nhóm các nhà kinh tế học của Mỹ từng đoạt giải Nobel thành lập năm 1994, công ty này quản lý một lượng đầu tư hơn 134 tỷ USD khi nó sụp đổ năm 1998.

Bất chấp hành động thất thường nhất của các thị trường tiền tệ cũng như các thị trường chứng khoán quốc tế và các nền kinh tế quốc gia, sự ủng hộ nhiệt tình dành cho các nền kinh tế phi điều tiết và các dòng tư bản tự do hóa vẫn không hề giảm. Nhờ thành quả của các thị trường chứng khoán Mỹ từ giữa những năm 1980 đến năm 1998, tăng trưởng mạnh về giá trị của Phố Wall đã tạo ra một không khí lạc quan choáng ngợp. Đó có thể là lý do tại sao chúng ta không thể thấy các vụ bê bối Enron, Adelphia và WorldCom năm 2001, cũng như những lời cảnh báo sau các vụ này, và tại sao một số năm trước đó, chúng ta vẫn không biết làm thế nào mà bối cảnh tài chính trục trặc đầu những năm 1980 lại mang đến cho các công ty điều có vẻ là cơ hội sinh lời để chấm dứt Đạo luật Glass-Steagall năm 1933.

Dù các công ty không được phép tham gia bảo hiểm và bán chứng khoán bằng tiền gửi ngân hàng, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) lại cho phép một số công ty tài chính mua các quỹ tiết kiệm đang gặp khó khăn. Vì thế, một làn sóng sáp nhập tài chính đã diễn ra. Sears đã tính đến việc biến mình thành "đơn vị dịch vụ tài chính hướng vào người tiêu dùng lớn nhất" đất nước". Năm 1981, công ty này sở hữu các công ty bảo hiểm Allstate, một ngân hàng ở California trị giá 3 tỷ USD, một công ty thế chấp, một công ty bảo hiểm thế chấp và hoạt động thẻ tín dụng lớn nhất đất nước thời đó. Công ty này còn mua lại Dean Witter Reynolds, khi đó là công ty môi giới lớn thứ năm, và Coldwell Banker, nhà môi giới bất động sản thực lớn nhất đất nước.

American Express cũng có mục đích tương tự bằng cách mua hai công ty môi giới để trở thành Shearson Lehman/American Express và sau đó sáp nhập thêm Investors Diversified Services. Prudential Insurance đã mua công ty môi giới Bache. Bank of America thì mua Charles Schwab, nhà môi giới giá rẻ lớn nhất đất nước. Merrill-Lynch trở thành công ty lớn thứ nhì, sau Coldwell Banker. Những vụ sáp nhập các công ty tài chính này và nhiều vụ khác đã diễn ra trong thời gian khoảng chục năm, mặc dù có ít bằng chứng cho thấy các tập đoàn sau sáp nhập hoạt động thành công.

Hầu hết các công ty sáp nhập này bỗng dưng trắng tay. Nhưng khác với điều mà các nhà kinh tế học Trường phái Chicago đã tiên đoán, một vài trong số đó đã phải chịu sự phán quyết của thị trường. Các tổng giám đốc của các ngân hàng và nhiều công ty khác đã không bị trừng phạt vì quản lý tồi; thay vì thế, hầu hết được hạ cánh an toàn vì đã cho phép các công ty của mình được người khác tiếp quản.

Các luật sư về sáp nhập và các ngân hàng đầu tư đã kiếm nhiều tiền từ các giao dịch lớn bất chấp việc sáp nhập đó có thành công hay không. Các cổ đông của công ty mua vẫn được trả một khoản tiền lãi theo cổ phiếu của họ ngay cả khi họ không thấy giá trị của công ty sáp nhập tăng lên. Và các luật sư, các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đầu tư lại kiếm lời khi các tập đoàn khổng lồ đó không hoạt động được, phải tuyên bố phá sản và thanh lý. Học thuyết Trường phái Chicago, khi đó còn là học thuyết lớn, không thể tính đến các hành vi nhỏ của các công ty đặc thù trong lĩnh vực chuyên biệt này của nền kinh tế.

Bất chấp kinh nghiệm đáng buồn về các vụ sáp nhập tài chính và nhiều lĩnh vực khác trong những năm 1980, các ngân hàng, chủ đầu tư và các thể chế tài chính vẫn tiếp tục gây sức ép để chính quyền tăng đầu tư suy đoán. Các học thuyết của Trường phái Chicago đã tranh thủ gửi đi thông điệp rằng các thị trường tài chính nên được thoát khỏi các ràng buộc điều tiết.

Chúng ta sẽ đều giàu có, chỉ cần các quy định mất phương hướng New Deal được hủy bỏ. An sinh xã hội có thể được tư nhân hóa và các quỹ lương hưu sẽ nhiều hơn khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Cứ như vậy. Trong thời gian gần đây, kiểu suy nghĩ này tăng mạnh và trở thành một ảo tưởng chung, khi các ngân hàng Scoland và Ai Len tham gia các đầu tư tài chính điên cuồng khiến các tổ chức từ lớn đến bé trên khắp thế giới bị vỡ nợ.

Thời điểm quan trọng nhất là 1999-2000, dưới thời chính quyền Clinton, khi mà các bằng chứng ngày càng khiến ta phải thận trọng. Luật Gramm-Leach-Bliley đã được thông qua năm 1999 và Luật hiện đại hóa trao đổi tương lai (CFMA) đã được thông qua năm 2000 là những văn bản đã xóa bỏ sự điều tiết của nhà nước bang và liên bang đối với các giao dịch ngân hàng và chứng khoán quan trọng.

Cả hai đạo luật này đều do Thượng nghị sĩ Cộng hòa Phil Gramm thai nghén, ông là một người tin hoàn toàn vào kinh tế học Trường phái Chicago và là cựu giáo sư kinh tế của Texas A&M. Nhưng các văn bản này lại được Giám đốc Fed, Alan Greenspan, và tất cả những người phụ trách chính sách kinh tế dưới chính quyền Clinton ủng hộ. Khi thảm họa chính trị xảy ra, sự ủng hộ này càng được thống nhất. Nhưng hãy cùng xem kỹ các luật sự này hiện nay làm gì.

Gramm-Leach-Bliley đã hủy bỏ các tàn dư của Luật Glass-Steagall, văn bản từng cấm các ngân hàng đầu tư các quỹ tiền gửi. Đạo luật này đã được thông qua ban đầu nhằm phân biệt các chức năng tài chính này sau khi Quốc hội thảo luận thấy rằng các ngân hàng thường lạm dụng lòng tin của người gửi tiền để đầu tư số tiền gửi này nhằm nâng giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ, cố phiếu của các công ty mà chính các ngân hàng đã cho vay tiền, hay các công ty mà họ có cổ phần.

Nhằm lấy lại lòng tin vào hệ thống ngân hàng, Luật Glass-Steagall đã tạo ra một đảm bảo tiền gửi (FDIC), nhưng lại hủy bỏ xung đột tiềm ẩn về lãi suất bằng việc cấm các thể chế gửi tiền biến các chức năng ngân hàng thành đầu tư như bảo hiểm và bán chứng khoán. Bằng cách này, các ngân hàng không thể mạo hiểm và mất tiền của nhân dân - lượng tiền mà họ giữ. Sau năm 1999, tất nhiên, các ngân hàng lại được làm việc này.

Còn CFMA đã hủy bỏ quyền lực của mọi cơ quan cấp cao hay liên bang trong việc điều tiết việc mua bán các sản phẩm chứng khoán phái sinh. Như vậy, nó đã rút các giao dịch này ra khỏi quyền quản lý của Ủy ban bán hàng tương lai, Ủy ban trao đổi chứng khoán, các luật đánh bạc và luật hình sự.

Nó cũng loại bỏ các nghĩa vụ trong luật 1933-34 về điều tiết toàn bộ sản phẩm chứng khoán. CFMA đã được soạn thảo cẩn thận nhằm tránh trường hợp các giao dịch như thế bị các luật đánh bạc cấp bang chi phối, vì các quan chức thực thi luật cấp bang có thể quyết định các giao dịch phái sinh chỉ là một trò đánh bạc. Giả định của luật là những người tham gia hợp đồng chứng khoán phái sinh có thể là các nhà đầu tư tinh vi hoàn toàn có khả năng tự bảo vệ mình khi họ lập hợp đồng này.

Kết quả của hai đạo luật trên là sự tăng trưởng mạnh mẽ trong ngành công nghiệp dịch dụ tài chính và tương đương với các hoạt động thương mại. USD trong lĩnh vực tài chính tăng từ 4% GDP năm 1998 lên hơn 8% năm 2006.

Các thể chế tài chính khổng lồ phát triển mạnh đến mức họ không bao giờ hiểu được hết hoạt động của các công ty trực thuộc. Tỷ lệ có việc làm cũng tăng mạnh trong những công ty như Citicorp, Bank of America, Wachovia, JPMorgan Chase, Goldman Sachs, Wells Fargo, Lehman Brothers, Merrill Lynch, Bear Sterns, AIG và Prudential. Dù ATM đã thay thế người thu ngân và các chương trình kinh doanh chứng khoán trên máy vi tính đã thay thế các chuyên gia tài chính, số người có việc làm trong lĩnh vực tài chính vẫn tăng từ 5 triệu người năm 1980 đến 8,3 triệu người năm 2006. Vào năm này, JPMorgan Chase tuyển dụng 174.000 nhân viên, Goldman Sachs cũng có tới 23.000 dù không có một chi nhánh bán lẻ nào. Các công ty tài chính này không chỉ quá lớn để nghĩ tới việc bị phá sản, mà họ quá lớn để thành công.

The Derivatives Well

Chúng ta có thể vẫn chưa rút kinh nghiệm về gánh nặng trách nhiệm pháp lý trong vấn đề này. Chỉ số Nickel đã đạt đỉnh cao sau đạo luật 1999-2000, và điều đó cũng tác động đến các thị trường phái sinh cụ một cách cụ thể nhất. Thị trường chứng khoán phái sinh phi điều tiết được tạo ra bởi CFMA năm 2000 đã ước tính có tổng trị giá danh nghĩa từ 200 nghìn tỷ - 600 nghìn tỷ USD. Để hiểu được tầm cỡ của con số này, có thể so sánh với GDP hàng năm của toàn bộ nền kinh tế, chỉ vào khoảng 60 ngàn tỷ USD.

Không ai biết chính xác giá trị danh nghĩa của các chứng khoán phái sinh bởi các giao dịch của nó không được ghi vào bất cứ trao đổi nào và không được thông báo. Chúng ta đã nhìn trộm được vào thị trường phái sinh nhờ cuộc khủng hoảng tín dụng thế chấp đã cho thấy sự lộn xộn trên thị trường phái sinh với việc hoán đổi tín dụng khó trả (CDSs). Người ta ước tính có 67 nghìn tỷ USD CDSs, một ít trong số đó được cho là để bảo vệ các nhà đầu tư thế chấp nếu các chứng khoán mà họ làm trung gian mất giá. Như gói cứu trợ AIG minh chứng, khi đến lúc thực hiện giao kèo trong hợp đồng hoán đổi, lại không có đủ tiền sẵn để trả.

Chúng ta đã được cảnh báo trước khi CFMA được thông qua năm 2000. Tháng 5/1997, Brooksley Born, Chủ tịch Ủy ban trao đổi tương lai (Commodities Futures Trading Commission), đã phản đối đề xuất dỡ bỏ điều tiết đối với các trao đổi tương lai, các quyền mua bán và các sản phẩm phái sinh. Trong một cuộc phỏng vấn đăng trên DerivativesStrategy.com, bà nói: Tôi nghĩ rằng chúng cần được bảo vệ chống lại gian lận và các mánh khóe trong các thị trường này.

Cảnh báo của bà Born đã bị bỏ qua, dù bà đã từng là một đối tác lớn phụ trách các vấn đề chứng khoán tại công ty luật uy tín ở Washington, Arnold & Porter. Sau khi Fed quyết định phải giàn xếp một gói cứu trợ trị giá nhiều tỷ USD cho Công ty quản lý vốn dài hạn (LTCM) hồi mùa hè năm 1998, bà Born đã lập luận trước Ủy ban Dịch vụ tài chính và ngân hàng rằng sự sụp đổ của LTCM là minh chứng cho mối nguy hiểm mà một thị trường phái sinh phi điều tiết gây ra cho nền kinh tế Mỹ.

Bất chấp những cảnh báo của bà Born, các quan chức chính quyền Clinton không làm gì cả. Tệ hơn, theo một nguồn tin, Bộ trưởng Ngân khố Robert Rubin, Thứ trưởng Robert Rubin và Chủ tịch Fed Alan Greenspan đã cố thuyết phục bà Born giữ im lặng để không gây hoang mang. Cao trào là khi luật CFMA có hiệu lực, không một cuộc tranh cãi hay thảo luận nào diễn ra tại Quốc hội, và không ai nói về các vấn đề này trên báo chí.

Tại sao bà Born và những người khác bị bỏ qua? Sau khi Anh áp dụng phi điều tiết các hợp đồng phái sinh năm 1986, các thể chế tài chính Mỹ lo lắng rằng sẽ mất một thị trường vô giá vào tay người Anh. Và có thể Greenspan, Rubin và Summers đều tin rằng, tránh được thảm họa sau lần sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1987, sau thất bại của LCTM, cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á và khủng hoảng đồng rúp của Nga, họ hiểu và có thể quản lý các thị trường tài chính.

Nhưng lần thứ ba, và có thể là quan trọng nhất, họ lại tin vào khái niệm Trường phái Chicago rằng các thị trường bình thường tự điều tiết và hầu hết hoạt động hiệu quả không cần sự điều tiết của chính phủ. Thực vậy, Greenspaan đã cho phép mình quá tin vào sức mạnh tự sửa đổi của các thị trường tự do và đã không tiên đoán được sức mạnh tự phá hủy của việc cho vay thế chấp bừa bãi. Điều thực sự sốc là sau rất nhiều bằng chứng tích tụ cho thấy nhược điểm của trường phái Chicago, bất cứ trí thức nào cũng vẫn có thể tin vào nó.

Trong hơn 30 năm qua, một loạt chính quyền và quốc hội đã phá hủy một hệ thống quy định cho lĩnh vực công và tư nhân từng được áp dụng cho hơn một thế kỷ rưỡi khủng hoảng kinh tế liên tiếp, dù những quy định này nhằm bảo vệ nền kinh tế Mỹ.

Các quy định này từng khiến các giao dịch trở nên minh bạch hơn và nền kinh tế ít bị tổn thương hơn bởi các lỗi của các tập đoàn ngoại cỡ. Và niềm tin dẫn tới bỏ rơi các quy định này có tên gọi là Trường phái kinh tế Chicago. Niềm tin này là nguồn trợ giúp ban đầu cho việc tạo ra những phần ít bị điều tiết trong lĩnh vực tài chính.

Các giả định cơ bản của Trường phái Chicago về bản chất con người và chỗ giao nhau giữa kinh tế và đời sống chính trị không hề giáo điều ngay từ đầu. Nhưng thật mỉa mai, khi kinh tế học xác nhận mình là một môn khoa học độc lập, tách khỏi các đối tác của nó là các triết gia chính trị, nó lại bị vướng vào chính trị nhiều hơn bao giờ hết.

Các chính khách hiện đại tìm kiếm ý kiến của giới chuyên môn trong Trường phái Chicago để điều hành một nền kinh tế hiện đại đang thay đổi, và họ thấy một sự trống rỗng. Một khi bỏ rơi các ràng buộc chính trị với quyền lực kinh tế, Học thuyết Chicago, với chân lý tối ưu hóa lợi nhuận, thông tin hoàn hảo và các thị trường tự sửa chữa, không khuyên hạn chế nguy cơ của thảm họa kinh tế và tài chính. Sự pha trộn hiệu quả của các mối quan tâm xã hội và kinh tế mà Simons là tiên phong có thể không phù hợp với một nền kinh tế hiện đại, nhưng mối lo về những nguy cơ của tập trung sức mạnh kinh tế vẫn là một vấn đề mà Trường phái Chicago đã bỏ qua. Và giờ đây, chúng ta đang phải trả giá./.

Theo Quốc Thái

Tuần Việt Nam


ngocdiep