TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

'Trung Quốc nên cẩn trọng với quả bom nợ'

28-02-2013 - 07:23 AM | Tài chính quốc tế

'Trung Quốc nên cẩn trọng với quả bom nợ'

Trung Quốc đang có dấu hiệu khủng hoảng tài chính, vì vậy cần giảm đầu tư, giảm nợ và chấp nhận tăng GDP 5-6% thay vì gần 8% hiện nay, theo Ruchir Sharma, Giám đốc cấp cao tại Morgan Stanley.

6 năm trước, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo từng cảnh báo kinh tế nước này "bất ổn, khó điều tiết và không bền vững". Tình hình Trung Quốc hiện nay lại càng làm mối lo ngại của ông trở thành hiện thực.

Tuyên bố trên nhằm thay đổi mô hình kinh tế chỉ dựa vào một đòn bẩy của Trung Quốc. Đó là đầu tư mạnh vào đường sá, nhà máy và các cơ sở hạ tầng khác. Việc này đã giúp họ trở thành cường quốc về sản xuất. Sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nổ ra. Để giúp kinh tế tiếp tục tăng trưởng, giới chức Trung Quốc đã tung gói kích kích 500 tỷ USD, đồng thời đề nghị các ngân hàng cấp vốn ào ạt. Vì vậy, tỷ lệ đóng góp của đầu tư vào GDP nước này đã lên tới 48%, mức kỷ lục với bất kỳ quốc gia lớn nào trên thế giới.

Đáng báo động hơn cả là lượng tín dụng mà nước này giải phóng để cấp vốn cho sự bùng nổ đầu tư này. Tính đến tháng 1 năm nay, lượng tín dụng mới tạo ra hàng năm đã gấp hơn 4 lần năm 2007, lên 2.750 tỷ USD. Năm ngoái, gần một nửa các khoản vay mới đến từ các tổ chức tín dụng đen. Khách hàng thường là những chính quyền địa phương gặp rắc rối trong việc hoàn trả khoản vay cho ngân hàng.

Tuy nhiên, quan điểm này đã bỏ qua nhiều bằng chứng quan trọng được công bố trong các nghiên cứu năm 2008 về nguyên nhân cuộc khủng hoảng năm đó. Vấn đề nằm ở tốc độ gia tăng, chứ không phải tổng nợ, đặc biệt là nợ tư nhân. Nợ tư nhân ở Trung Quốc được tính bằng tất cả những khoản vay gần như là của Chính phủ, như chính quyền địa phương và các công ty nhà nước.Kể từ năm 2008, tổng nợ công và nợ tư nhân của nước này đã lên tới hơn 200% GDP. Đây là con số kỷ lục trong tất cả các nước đang phát triển. Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư vẫn cho rằng việc này có ít ảnh hưởng đến hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Theo số liệu này, Trung Quốc đang ở trong tình trạng báo động. Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho biết tỷ lệ nợ tư nhân trên GDP tăng thêm 6% so với thập kỷ trước là dấu hiệu đầu tiên của khủng hoảng tài chính. Tốc độ tăng này ở Trung Quốc hiện là 12%, cao hơn cả mức đỉnh trước khủng hoảng tín dụng tại Nhật Bản năm 1989, Hàn Quốc năm 1997, Mỹ năm 2007 và Tây Ban Nha năm 2008.

Một dấu hiệu khác của khủng hoảng được tìm ra bởi Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Đó là tín dụng tư nhân tăng nhanh hơn GDP trong liên tục 3 - 5 năm, và tỷ lệ nợ tư nhân trên GDP cũng tăng theo.Ở Trung Quốc, nợ tư nhân đã tăng nhanh hơn GDP suốt từ năm 2008, và tỷ lệ này trên GDP cũng tăng thêm 0,5% lên 180%, tương tự tình trạng của Mỹ và Nhật trước khi khủng hoảng xảy ra.

Những nhà đầu tư lạc quan cho rằng các quy luật tài chính này không thể áp dụng với Trung Quốc. Họ giải thích khủng hoảng ngân hàng thường bắt nguồn từ nhu cầu tiền tệ của các tổ chức tín dụng nước ngoài. Trong khi đó, Trung Quốc nợ bên ngoài rất ít.

Tuy nhiên, trong nghiên cứu "Đòn bẩy tài chính vĩ đại" của Phòng nghiên cứu Kinh tế quốc gia Mỹ, công bố tháng 8/2012, nhà kinh tế tại Đại học Virginia - Alan Taylor đã khảo sát 79 cuộc khủng hoảng tại các nền kinh tế phát triển trong hơn 140 năm qua. Nhờ đó, ông tìm ra rằng việc này vẫn có thể xảy ra với các nước phụ thuộc vào tín dụng nội địa và nợ nước ngoài ít.

Những nhà đầu tư lạc quan cũng cho rằng Trung Quốc có đủ tiềm lực để xóa sổ các khoản nợ xấu do họ có hơn 3.000 tỷ USD dự trữ ngoại hối và tiền gửi trong nước. Tuy nhiên, các quốc gia châu Á có lượng tiền tiết kiệm cao và nợ nước ngoài thấp có thể tránh được khủng hoảng ngân hàng sau bùng nổ tín dụng, thì tăng trưởng GDP lại rất chậm.

Sau bùng nổ tín dụng đầu thập niên 70 và cuối thập niên 80, Nhật Bản từng sử dụng nguồn tài chính dồi dào để hỗ trợ các tổ chức tín dụng yếu kém. Khi tăng trưởng tín dụng tại đây đạt đỉnh, GDP đã giảm mạnh cả 5 năm sau đó, xuống 3% từ 8% thập niên 70 và xuống 1% từ 4% thập niên 80. Đài Loan cũng có động thái tương tự và GDP cũng giảm xuống chỉ còn 6% đầu thập niên 90.

Kể cả khi Trung Quốc tránh được khủng hoảng tài chính, nước này cũng vẫn phải tăng trưởng chậm do nền kinh tế mắc kẹt trong nợ. Cho đến năm 2007, để tạo ra 1 USD tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc cần hơn 1 USD nợ. Tuy nhiên, kể từ đó, tỷ lệ này đã tăng lên thành 3 USD nợ.

Đây là giai đoạn cuối của bùng nổ tín dụng, khi nợ ngày càng được ném vào nhiều mà hiệu quả đầu tư lại giảm xuống. Ở Trung Quốc, xuất khẩu và sản xuất đang chậm lại khi dòng vốn dần chảy vào đầu cơ bất động sản. Khoảng một phần ba nợ ngân hàng tại đây nằm trong bất động sản, hoặc bảo đảm bằng bất động sản, gần bằng tỷ lệ tại Mỹ năm 2007.

Các chuyên gia cho rằng, để tăng trưởng bền vững hơn, nước này cần cân bằng đầu tư thông qua thúc đẩy tiêu dùng. Tiêu dùng nước này đã tăng 8% một năm trong cả thập kỷ trước, mạnh hơn bất cứ nền kinh tế lớn nào, kể cả Nhật Bản, mà không làm tăng lạm phát. Tuy nhiên, đóng góp của tiêu dùng vào GDP lại đang giảm do đầu tư còn tăng với tốc độ nhanh hơn.

Vì vậy, Sharma nhận định Trung Quốc cần cắt giảm đầu tư và kiềm chế tăng tăng nợ. Điều này cũng có nghĩa là họ phải chấp nhận tăng trưởng GDP ở mức 5% - 6%, thấp hơn nhiều tốc độ hiện tại là 8%. Ở các nước phát triển nhanh nhờ đầu tư, như Brazil thập niên 70 và Malaysia thập niên 90, tăng trưởng kinh tế thường giảm một nửa trong thập kỷ sau bùng nổ đầu tư. Trong khi hiện tại, Trung Quốc lại cố gắng duy trì mục tiêu tăng trưởng phi thực tế, bằng cách nhồi thêm nợ vào quả bom nợ đã sắp phát nổ.

Theo Thùy Linh
VnExpress

huongnt

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên