TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Vội vàng thắt chặt ngân sách sẽ rất nguy hiểm

21-06-2010 - 15:51 PM | Tài chính quốc tế

Vội vàng thắt chặt ngân sách sẽ rất nguy hiểm

Nếu kinh tế còn tăng trưởng khá, chẳng có gì phải lo về nợ công. Nếu kinh tế suy thoái, ngân sách nhiều mấy cũng là không đủ.

Tác giả là cây bút bình luận Martin Wolf của tờ Financial Times. Ông được phong tước Hiệp sỹ Đế chế Anh năm 2000, Tiến sỹ danh dự Trường Kinh tế London năm 2006 và được bình chọn là “Cây bút bình luận của năm” tại Anh năm 2009. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

Tiếng kêu gào của tư duy kinh tế cũ lại vang lên một lần nữa: hãy sám hối trước khi quá muôn; cái giá của một ngân sách lỏng lẻo sẽ là cái chết. Nhưng đã đến lúc hạn chế chi tiêu? Tôi nghi ngờ điều đó.

Ít nhất, chúng ta phải biết rủi ro là những gì: trì hoãn thắt chặt chi tiêu gây nguy cơ lạm phát thậm chí là mất khả năng thanh toán; thắt chặt sớm quá lại dẫn đến suy thoái, thậm chí giảm phát.

Khó khăn lắm mới vượt qua được cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất lịch sử, đừng đánh giá thấp nguy cơ suy thoái.

Một số người cho rằng nền kinh tế luôn cân bằng, hay nói như TS. Pangloss trong một tác phẩm của Voltaire rằng, cái gì cũng là tốt nhất trong những cái tốt nhất có thể.

Số khác lại lập luận như Bộ trưởng Tài chính Mỹ dưới thời Herbert Hoover, ông Andrew Mellon, rằng sau một đợt bùng nổ tín dụng, chúng ta nên “thanh lý lao động, thanh lý cổ phiếu, thanh lý nông dân, thanh lý bất động sản … tức là thanh trừng luôn những gì thối nát trong hệ thống.”

Không phải tôi đang viết cho hai nhóm người này đọc, tôi đang viết cho những ai đã nhận ra rằng lỗi lầm trong quá khứ đã đẩy cả thế giới xuống vực thẳm và muốn thoát khỏi đó càng nhanh càng tốt.

Dù vậy, những người thông minh tin rằng nguy cơ lớn nhất hiện nay là trì hoãn thắt chặt ngân sách. Họ có 4 lý do để lo ngại.

Thứ nhất, họ sợ thị trường tài chính đã quay lưng lại với Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha sẽ sớm quay lưng lại với Anh và thậm chí là với Mỹ.

Thứ hai, họ tin rằng thâm hụt làm thoái lui đầu tư tư nhân vốn rất cần cho hồi phục.

Thứ ba, họ lập luận rằng thâm hụt cao chắc chắn gây ra lạm phát.

Và cuối cùng, họ tin thâm hụt ngân sách không hỗ trợ nổi tổng cầu.

Nhờ cách tiếp cận về cán cân tài chính của ông Wynne Godley quá cố, chúng ta hãy xem mình đang ở đâu. Trước hết hãy xem xem khu vực tư nhân đang hoạt động ra sao.

Năm 2010, theo dự báo mới nhất của IMF, khu vực tư nhân của mọi nước thu nhập cao đều có thu nhập vượt chi tiêu. Thặng dư trung bình đạt 7,8% GDP, của Nhật Bản là 12,6% GDP, của Anh là 9,7% GDP, của Mỹ là 7,7% GDP và khu vực sử dụng đồng euro (eurozone) là 6,8% GDP.

Nói tóm lại, những gì đang diễn ra là một nạn dịch tiết kiệm của khu vực tư nhân, đúng như những gì nhiều “bác sỹ” kinh tế kê đơn. Dù vậy, nạn dịch này sẽ mang lại cả thặng dư tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách.

Trong số các nước này, chỉ có Nhật Bản và Đức có tài khoản vãng lai thặng dư. Số còn lại là các nước nhập khẩu vốn.

Các nước này có thâm hụt ngân sách lớn hơn thặng dư của khu vực tư nhân. Có lẽ hơi kích động một chút nhưng chúng ta đang có một cơn thủy triều thâm hụt.

Hạn chế chi tiêu tư nhân và thâm hụt ngân sách, cái nào đến trước? Câu trả lời là hạn chế chi tiêu tư nhân.

Xét trường hợp của Mỹ, bước chuyển to lớn trong cán cân tư nhân giữa quý IV/2007 và quý II/2009, từ thâm hụt 2,2% GDP tới thặng dư 6,6% GDP, trùng với cuộc khủng hoảng tài chính.

Thực tế tổng cầu và lãi suất dài hạn giảm cùng lúc cho thấy chi tiêu tư nhân sụp đổ làm thâm hụt ngân sách “tiến bước”. Sự rồ dại của khu vực tư kéo theo sự rồ dại của khu vực công.

Trong bài báo gần đây trên tờ Financial Times, Jeffrey Sachs từ ĐH Columbia cho rằng kích thích tài khóa là không cần thiết: chính sách tiền tệ là đủ. Tôi không đồng ý.

Bất chấp chính sách tiền tệ mạnh mẽ chưa từng có, khu vực tư vẫn tích trữ một khoản thặng dư khổng lồ. Chính sách tiền tệ đã đạt tới giới hạn của nó.

Sự hỗ trợ từ ngân sách mà chủ yếu là những công cụ tự ổn định (trong trường hợp này trợ cấp thất nghiệp và các công cụ tương tự – ND) chứ không phải gói kích thích đã giúp duy trì tổng cầu trong khủng hoảng.

Nhưng chúng chưa đủ để ngăn suy thoái sâu, dù đã có chính sách tiền tệ hỗ trợ. Ý kiến cho rằng kích thích là không cần thiết thật khó chấp nhận. Cho rằng nó quá nhỏ hay sai đối tượng thậm chí còn dễ tin hơn.

Vậy thì nên giảm thâm hụt ở mức độ nào? Chúng ta phải nhìn thấy nguy cơ ở đây: cắt giảm chi tiêu công sẽ không tự động làm tăng chi tiêu tư nhân.

Thay vào đó, nỗ lực giảm thâm hụt cơ cấu có thể làm tăng thâm hụt chu kỳ, tức là mọi thứ vẫn như cũ hoặc có giảm được thặng dư của khu vực tư chỉ nhờ thu nhập giảm thậm chí còn nhanh hơn chi tiêu.

Cả hai kết cục đều chẳng mấy sáng sủa. Ấy vậy mà cũng chẳng tránh được cái nào.

Sản lượng còn trì trệ, hỗ trợ từ ngân sách gần như không thể gây ra lạm phát. Nó cũng không làm thoái lui đầu tư tư nhân, nếu không muốn nói là kích thích thêm.

Khi ấy một câu hỏi lớn là liệu có thể tài trợ cho thâm hụt được không. Câu trả lời là có.

Hãy nhớ rằng chừng nào khu vực tư nhân còn có thặng dư tài chính, họ còn phải mua chứng khoán nợ từ khu vực công, trừ khi các nước phát triển sắp chuyển sang trạng thái đối ngoại khổng lồ.

Thực tế, khu vực tư có thể chọn lựa chính phủ nào mình tin tưởng. Nhưng họ ít khả năng từ bỏ nước Mỹ. Đến nay vẫn chưa có dấu hiệu gì cho thấy họ sẽ làm như vậy.

Vấn đề của các nước vùng rìa Châu Âu là họ chẳng có triển vọng gì sẽ lại có tăng trưởng trong ngắn hạn. Thị trường không tin vào sự ổn định chính trị của những nền kinh tế đang thắt lưng buộc bụng.

Người ta không lo ngại chuyện thâm hụt ngân sách mà dè chừng việc các nước này chẳng thể tăng trưởng.

Chính sách tốt nhất là đưa ra các biện pháp tổng hợp vừa duy trì tăng trưởng mạnh tổng cầu ngắn hạn vừa hạn chế thâm hụt ngân sách dài hạn. Dễ như vừa đi bộ vừa nhai kẹo cao su. Sao phải căng thẳng đến thế?

Dù vậy nền kinh tế Châu Âu sẽ phải vượt qua thời kỳ thắt lưng buộc bụng với không ít thương tích và thế nên buộc phải “đi ăn xin” anh hàng xóm rủi phận là nước Mỹ.

Như Fred Bergsten từ Viện Kinh tế quốc tế Peterson ở Washington viết trên tờ Financial Times tuần trước, những chính sách như thế có thể rất nguy hiểm. Do đó, thay vì ổn định, hạn chế chi tiêu quá sớm đe dọa gây bất ổn đối với nền kinh tế thế giới.

Trong trường hợp này, quyết định biến eurozone thành một nước Đức khổng lồ sẽ và nên được xem là một hành vi chiến tranh thương mại đối với nước Mỹ.

Mỹ sao có thể chịu đựng được thói đạo đức giả của những quốc gia thặng dư buộc tội người đi vay tiền mình vì số thâm hụt không cách nào tránh khỏi chính bắt nguồn từ số thặng dư của những nước nói trên?

Theo tôi đoán thì cũng không lâu nữa đâu, ít nhất vì chính phủ Mỹ đã trở thành người “cứu cánh đi vay” cuối cùng của thế giới.

Tôi hiểu thâm hụt ngân sách lớn làm mọi người căng thẳng. Tôi cũng hiểu khao khát chứng minh khả năng thanh toán của quốc gia mình.

Nhung mù quáng tuân theo kỷ luật tài khóa bất chấp những gì đang diễn ra ở khu vực tư nhân hay cán cân đối ngoại chỉ nên dành cho những thủ đoạn đấu đá chính trị.

Ổn định ngân sách hỗ trợ tăng trưởng là đáng hoan ngênh. Nhưng hành động quá sớm làm xói mòn tăng trưởng thì thật dại dột.

Minh Tuấn
Theo FT

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM