Chênh lệch lớn giữa
số liệu kinh doanh ước tính với kiểm toán khiến nhà đầu tư hoang mang.
Cẩn thận với lỗ
lãi khó lường
Những thông tin mới
đây về kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC)
ngày 15/8 vừa qua chỉ là một sự kiện nối tiếp những con số chênh lệch kết quả
kinh doanh giữa báo cáo của công ty mẹ và báo cáo hợp nhất. Sự chênh lệch số liệu
đối với những doanh nghiệp có tổ chức phức tạp, nhiều công ty con, công ty liên
kết là bình thường. Tuy nhiên không phải nhà đầu tư nào cũng cất công tìm hiểu
cơ cấu tổ chức, cũng như tìm hiểu ngọn nguồn dòng tiền vào ra của doanh nghiệp
để chuẩn bị cho sự khác biệt đó.
Theo báo cáo kết
quả kinh doanh quý 2/2012 của KBC – công ty mẹ, lợi nhuận gộp về bán hàng và
cung cấp dịch vụ trong kỳ là 16,43 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi hợp nhất báo cáo tài
chính của các công ty con, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của
KBC lại là -32,43 tỷ đồng. Nguyên nhân chính là giá vốn sau hợp nhất đã tăng gấp
7,7 lần so với số liệu của riêng công ty mẹ, trong khi doanh thu thuần sau hợp
nhất chỉ tăng được gần 13%. Như vậy hoạt động kém của các công ty con đã tăng
gánh nặng lên công ty mẹ.
Ngoài ra, sau hợp
nhất, chi phí tài chính của KBC đã tăng gần gấp đôi và chi phí quản lý doanh
nghiệp tăng gấp 2,8 lần. Ảnh hưởng lớn từ hoạt động kinh doanh của các công ty
con đã đẩy con số lỗ của riêng công ty mẹ KBC từ 29,23 tỷ đồng, lên mức 123,59
tỷ đồng của toàn tập đoàn. Kết quả kinh doanh hợp nhất thay đổi lớn là do KBC hợp
nhất báo cáo tài chính của 5 công ty con. Ngoài ra KBC còn có một công ty con nữa
là Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bắc Giang chưa được hợp nhất. KBC đang nắm giữ
51% vốn điều lệ tại công ty này tính đến 30/6/2012. Công ty này chưa tiến hành
sản xuất kinh doanh và mức lỗ ghi nhận
trong 6 tháng chỉ là hơn 135 triệu đồng.
Đối với những
doanh nghiệp quy mô lớn và sở hữu nhiều công ty con, hoạt động kinh doanh của
các công ty con này thường dẫn đến những biến động lớn khi hợp nhất. Hoạt động
này rất khó dự đoán do thiếu thông tin
và có thể tác động hai chiều, tích cực hoặc tiêu cực. Chẳng hạn với trường
hợp của KBC, ảnh hưởng từ các công ty con khiến KBC sau hợp nhất không chỉ mất
lãi mà còn lỗ nặng. Nhiều trường hợp công ty mẹ đã lỗ lại còn lộ nặng hơn khi
phải chia sẻ lỗ với công ty con. Cũng có nhiều trường hợp công ty mẹ lỗ nhưng
công ty con lãi khiến kết quả hợp nhất có thể đảo ngược.
Với số liệu kết quả
kinh doanh quý 2 được công bố khá nhiều cho đến thời điểm này, không khó để liệt
kê hàng loạt công ty niêm yết có biểu hiện của ảnh hưởng nói trên. REE lợi nhuận
quý 2 của công ty mẹ đạt 114,45 tỷ đồng nhưng con số lãi thuộc về cổ đông công
ty mẹ sau khi hợp nhất lên tới 148,65 tỷ đồng, tương đương tăng gần 30%. PXM
công ty mẹ có lợi nhuận gộp là -2,18 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế -22,07 tỷ
đồng. Sau khi hợp nhất, doanh thu tuy được đẩy lên cao hơn gần 86% so với con số
riêng lẻ, nhưng lợi nhuận gộp cũng không cải thiện được bao nhiêu, chỉ đạt 10,8
triệu đồng. Cả công ty mẹ lẫn công ty con đều phải gánh chi phi lãi vay quá cao
khiến lợi nhuận trước thuế hợp nhất lỗ nặng thêm: -25,43 tỷ đồng.
Với PAN, lợi nhuận
gộp của công ty mẹ không đáng kể, chỉ xấp xỉ 590 triệu đồng mặc dù doanh thu gần
10,6 tỷ đồng. Sau hợp nhất lợi nhuận gộp tăng lên 15,54 tỷ đồng. Lợi nhuận
chính của công ty mẹ PAN là hoạt động tài chính với doanh thu hơn 19,6 tỷ đồng.
Trong khi đó doanh thu hoạt động tài chính sau hợp nhất chỉ là 12,65 tỷ đồng. Tổng
lợi nhuận kế toán trước thuế hợp nhất đạt
16,8 tỷ đồng, tăng không nhiều so với mức 13,26 tỷ đồng của riêng công ty mẹ. Lợi
nhuận kế toán sau thuế hợp nhất của PAN chỉ là 12,31 tỷ đồng, thậm chí còn giảm
nhẹ so với 12,37 tỷ đồng của công ty mẹ.
Tiếp tục “biến ảo”
hậu soát xét ?
Do rất nhiều công
ty niêm yết trên sàn có hoạt động đa dạng và cơ cấu tổ chức phức tạp, nên hầu hết
các báo cáo riêng lẻ của công ty mẹ đều được nhà đầu tư nhìn với con mắt thận
trọng. Phần mờ có khả năng tạo đột biến chính là các hoạt động của công ty con
và phần rủi ro này rất khó lường trước. Việc kết quả kinh doanh thay đổi từ báo
cáo riêng lẻ sang báo cáo hợp nhất là bình thường. Tuy nhiên còn một rủi ro nữa
trong báo cáo bán niên là khả năng chênh lệch số liệu trước và sau soát xét kiểm
toán.
Đến thời điểm này
các doanh nghiệp niêm yết mới tập trung vào công bố báo cáo hợp nhất ước tính.
Tuy nhiên thị trường đã đón nhận thông tin đầu tiên liên quan đến THV: Sau soát
xét kiểm toán bán niên, mức lỗ 84,17 tỷ đồng tăng lên thành 129,44 tỷ đồng. Việc
soát xét kiểm toán bán niên theo quy định thường chậm hơn nhưng cũng tiềm ẩn
nhiều con số “biến ảo” hơn. Nếu như sự khác biệt số liệu giữa riêng lẻ và hợp
nhất là trong vòng hợp lý thì chênh lệch giữa số liệu doanh nghiệp tự công bố với
số liệu sau soát xét hoặc sau kiểm toán dễ làm nổ ra những tranh luận và nghi
ngờ. Cũng phải ghi nhớ là soát xét kiểm toán bán niên không thể đầy đủ và chặt
chẽ như kiểm toán toàn phần cuối năm, nên những chênh lệch xảy ra thậm chí có
thể còn thấp hơn thực tế.
Có thể tham khảo một
thống kê kết quả kinh doanh bán niêm của năm 2011 và đã có những con số thay đổi
rất lớn tính theo mức khác biệt tương đối theo tỉ lệ phần trăm. Chẳng hạn VES
báo cáo lũy kế 6 tháng lỗ 1,14 tỷ đồng, sau soát xét mức lỗ tăng lên thành 4,9
tỷ đồng. CTN từ lỗ 1,28 tỷ đồng lên 2,7 tỷ đồng. Nổi tiếng nhất thời điểm đó là
VSP (đã hủy niêm yết), mức lỗ tăng thêm tới 17 tỷ đồng sau soát xét. Trích lập
dự phòng không đầy đủ hoặc không phù hợp, ghi nhận doanh thu sai, đánh giá
chênh lệch tỉ giá… là những yếu tố phổ biến tạo nên sự chênh lệch trước và sau
soát xét.
Theo Khánh Hà
VNEconomy