TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Cuộc chiến thị phần nhìn từ "doanh thu khác"

Cuộc chiến thị phần nhìn từ "doanh thu khác"

Những khoản mục "khác" trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp như thu nhập khác, chi phí khác, lợi nhuận khác… thường tạo ra những sự tò mò, bất ngờ cho người đọc.

Khoản mục "doanh thu khác" trên báo cáo tài chính của một số công ty chứng khoán (CTCK) cũng không phải ngoại lệ.

Doanh thu của các CTCK trên báo cáo tài chính được phân làm 9 loại, gồm: môi giới, đầu tư, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, tư vấn, lưu ký, ủy thác đấu giá, cho thuê sử dụng tài sản và khác. Điều dễ nhận thấy là trong 8 loại doanh thu đầu tiên, chỉ cần đọc qua là có thể hiểu được nguồn gốc hoặc bản chất, nhưng với doanh thu khác lại là… câu chuyện khác.

Nhận diện doanh thu khác

Năm 2012, doanh thu của Công ty chứng khoán FPT (FPTS) đạt 237 tỷ đồng thì gần 2/3 được tạo thành từ doanh thu khác, tương đương 149 tỷ đồng. Doanh thu khác của FPTS còn gấp 3 lần doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán (51 tỷ đồng); gấp 5 lần doanh thu của hoạt động tư vấn (gần 32 tỷ đồng); gấp 18 lần doanh thu lưu ký (xấp xỉ 4 tỷ đồng) và cuối cùng gấp… 150 lần doanh thu đầu tư, góp vốn (chỉ hơn 1 tỷ đồng).

Trong thuyết minh báo cáo tài chính 2012 của FPTS, Công ty liệt kê lãi tiền gửi, cho vay vốn gần 101 tỷ đồng và doanh thu khác hơn 48 tỷ đồng. Nếu cộng 2 khoản này lại, sẽ cho ra con số 149 tỷ đồng, tương đương với doanh thu khác của Công ty. Đi theo hướng này, thì cũng chỉ mới giải mã được gần 70% doanh thu khác của FPTS là từ tiền gửi và cho vay, vậy 30% còn lại (48 tỷ đồng) đến từ đâu vẫn chưa biết rõ.

Theo thuyết minh trên báo cáo tài chính 2012 của Công ty chứng khoán VNDirect (VNDS), 162 tỷ đồng doanh thu khác bắt nguồn từ: lãi tiền gửi gần 111 tỷ đồng, cổ tức 17 tỷ đồng, thu lãi bảo lãnh tiền mua hơn 34 tỷ đồng và doanh thu khác hơn 200 triệu đồng. Tức là doanh thu khác của VNDS cũng có nét tương đồng với FPTS, khi đến từ tiền gửi và bảo lãnh tiền mua (cho vay), nhưng khác biệt ở đây là VNDS có thêm nguồn thu từ cổ tức được nói rõ, còn FPTS thì không nói rõ 48 tỷ đồng đến từ đâu.

Công ty chứng khoán Tp.HCM (HCM) có 370 tỷ đồng doanh thu khác trong năm, gồm có từ tiền gửi, hoạt động giao dịch ký quỹ (giống với các công ty trên), ngoài ra, còn có doanh thu từ các hợp đồng mua và cam kết bán lại chứng khoán, từ hoạt động ứng trước cho nhà đầu tư…

Ở đây, nhiều người sẽ có đôi chút thắc mắc về doanh thu từ các hợp đồng mua và cam kết bán lại chứng khoán của HCM đem về gần 40 tỷ đồng cho Công ty. Có một chi tiết nhỏ, là chiếm tỷ trọng lớn vẫn từ giao dịch ký quỹ và thu lãi tiền gửi ngân hàng. HCM và VNDS liệt kê chi tiết hơn trường hợp của FPTS là tiền gửi thu bao nhiêu, tiền cho vay ra bao nhiêu.

Hiện nay, trên thị trường có những CTCK có cổ đông lớn là ngân hàng, tổ chức tài chính lớn cũng có nghĩa là những CTCK này có lợi thế về nguồn vốn. Nhưng nhìn vào top những CTCK có thị phần lớn nhất, số lượng các công ty có ngân hàng mẹ đứng sau cũng không chiếm áp đảo so với những công ty còn lại.

Đi tìm lợi thế cạnh tranh

Điều đó cho thấy rằng cuộc cạnh tranh giữa các CTCK hiện nay, dù có thiên về vốn, có vốn mới có thể cho vay, có vốn mới có tiền để gửi, nhưng không phải cứ vốn lớn là thắng. Vấn đề nằm ở cách làm, sự linh hoạt, năng động. Có nhiều CTCK có cổ đông lớn là ngân hàng, hay công ty bảo hiểm, nhưng vẫn hoạt động không mấy hiệu quả đó thôi.

Không khó để nhìn ra một công thức chung đối với các CTCK có thị phần lớn hiện nay như VNDS, HCM hay FPTS. Đó là tập trung vào hoạt động môi giới, từ hoạt động môi giới có thể tạo ra những nguồn thu từ cho vay giao dịch ký quỹ, cho vay ứng trước và những công ty nào còn tiền cũng có thể đem gửi ngân hàng…

Thị phần các CTCK trong khoảng 2 năm qua đã được định hình khá ổn định. Vì vậy, việc một CTCK nào đó tiếp tục áp dụng công thức trên để giành thị phần sẽ triệt tiêu nguồn lực của các công ty với nhau và của chính mình. Đây là điều không nên làm. Bởi lẽ, trong giai đoạn 2009 - 2001, nhiều CTCK cũng vì đẩy mạnh cho vay, giành khách hàng lẫn nhau một cách thiếu kiểm soát đã dẫn đến sa lầy trong hoạt động, dẫn đến thua lỗ, mất thanh khoản.

Cho đến giờ, những CTCK có "ngón tủ" để phục vụ khách hàng vẫn cực kỳ hiếm hoi. Lợi thế cạnh tranh chính yếu vẫn nằm ở việc giảm phí hoặc chia hoa hồng nhiều cho môi giới. Đó không phải là phương thức có tính dài hạn.

Theo Khiêm An

thanhhuong

Thời báo kinh doanh

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên