TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Điều kiện để vốn ngoại chảy mạnh vào chứng khoán Việt Nam

Điều kiện để vốn ngoại chảy mạnh vào chứng khoán Việt Nam

Có 4 lý do tích cực khiến các NĐTNN quan tâm trở lại vào TTCK tại Việt Nam nói riêng và trong khu vực ASEAN.

Chỉ trong gần 2 tháng qua, dòng vốn ngoại đã liên tục chảy vào Việt Nam. Việc tăng room hay phát hành cổ phiếu không có quyền biểu quyết nếu được áp dụng sẽ mang lại tích cực cho thị trường vì cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn.

Nhân dịp đầu Xuân, phóng viên NDHMoney đã có dịp trao đổi với ông Phạm Ngọc Bích, Giám đốc Khối phát triển khách hàng tổ chức, CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI) về cơ hội thu hút dòng vốn ngoại của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tháng 1/2013, thị trường chứng khoán dậy sóng và tăng trưởng khá mạnh. Đóng góp không nhỏ trong đó là dòng tiền của nhà đầu tư nước ngoài. Xin ông cho biết nhận định của mình về xu hướng này? Liệu đây có là tín hiệu tích cực cho TTCK cả năm 2013 hay không?

Từ cuối tháng 12/2012 đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) đã tăng việc đầu tư vào TTCK Việt Nam. Điển hình là các NĐTNN trên thế giới đã đổ vào trên 100 triệu USD tiền mới vào 2 quỹ ETF chuyên đầu tư vào cổ phiếu Việt Nam là quỹ Vietnam Market Vector ETF Fund và quỹ Deutsche Bank FTSE Vietnam UCITS ETF.

(Quỹ Vietnam Market Vector ETF Fund đang niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) với giá trị tổng tài sản quản lý hiện tại 429 triệu USD.


Quỹ Deutsche Bank FTSE Vietnam UCITS ETF hiện niêm yết tại các sàn giao dịch Euronext Paris, Stuttgart, Deutsche Borse, Hong Kong, Italy, Stockholm, Swiss Exchange và London, với giá trị tổng tài sản quản lý hiện tại 400 triệu USD.)

Có 4 lý do tích cực khiến các NĐTNN quan tâm trở lại vào TTCK tại Việt Nam nói riêng và trong khu vực ASEAN.

Đầu tiên phải kể đến là Việt Nam và khu vực ASEAN tiếp tục thu hút nhiều vốn đầu tư FDI do phí lao động sản xuất thấp hơn Trung Quốc. Đặc biệt phí lao động sản xuất tại Việt Nam rẻ hơn 50% phí lao động bên Trung Quốc, khiến nhiều doanh nghiệp đa quốc gia như Samsung, Nokia (phụ kiện điện tử và điện thoại), E-Land, Li & Fung (may mặc), Nike (giầy dép), Semcorp (khu công nhiệp)… tiếp tục chuyển các nhà máy sản xuât từ Trung Quôc sang Việt Nam.

Thứ hai, tầng lớp trung lưu phát triển mạnh của có nhu cầu tiêu dùng cao tại khắp khu vực ASEAN. Đặc biệt ngành thực phẩm và ăn uống tiếp tục tăng trưởng tốt tại Việt Nam đã thu hút nhiều doanh nghiệp quốc tế như Starbuck Coffee, Lotte, AON, v..v...

Thứ ba, các biện pháp để tư nhân hóa và tự do hóa nền kinh tế theo chính sách thị trường của các cơ quan nhà nước tại các quốc gia trong ASEAN bao gồm Việt Nam ( và mới đây Myanmar) sẽ tiếp tục làm ổn định nền kinh tế, làm giảm lạm phát và nâng tỷ giá tiền tệ một cách bền vững ổn định, mang lại mối an tâm mới cho các nhà đầu tư.

Cuối cùng là hoạt động thương mại giữa các quốc gia ngày càng tăng trưởng trong khu vực ASEAN và với các nước phát triển tại Châu Á bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… với mục đích thành lập một thị trường tiêu thụ lớn và miễn thuế bắt đầu năm 2015.

Những phát triển trên trong khu vực sẽ đem lại ảnh hưởng tốt cho nền kinh tế Việt Nam và sẽ giúp các doanh nghiệp vượt qua các khó khăn hiện tại trong trung và dài hạn. Vì vậy, SSI đánh giá khá tích cực đối với triển vọng TTCK Viêt Nam trong năm 2013.

Gần đây, xuất hiện nhiều thông tin cơ quan quản lý có thể mở room cho NĐTNN, hay phát hành cổ phiếu không có quyền biểu quyết. Theo ông, nếu những quyết định này được thông qua, thị trường chứng khoán sẽ có những hỗ trợ gì?

Căn cứ trên các thông tin được các báo chí phổ biến, hiện nay vẫn chưa có văn bản nào chính thức xác nhận việc Chính phủ quyết định nâng cao mức room của các cổ phiếu niêm yết cho NĐTNN và việc phát hành cổ phiếu không có quyền biểu quyết.

Tuy nhiên, có tin rằng Chính phủ đã phê duyệt chủ trương và nguyên tắc nâng mức room sở hữu cổ phiếu niêm yết cho các NĐTNN từ 49% hiện nay lên đến 60% (ngoại trừ ngành ngân hàng), đặc biệt đối với các công ty niêm yết mà các nhà đầu tư trong nước không cần nắm giữ quyền chi phối trên 50%. Cũng theo thông tin đó, một nghị định chính phủ đang được UBCKNN và Bộ Tài chính soạn để trình lên Thủ tướng duyệt và dự kiến sẽ được ban hành trong quý 1/2013.

Ngoài ra, UBCKNN và các Sở GDCK đang xem xét 2 phương án khác để cho phép các NĐTNN sở hữu các cổ phiếu đã hết room nhưng sẽ không nắm giữ quyền biểu quyết.

Phương án đầu tiên là áp dụng mô hình NVDR tương tự như bên Thái Lan. Theo đó, UBCKNN và các Sở GDCK có thể cho phép niêm yết những chứng chỉ NVDR (Non-Voting Depository Receipts) nhưng có điều chỉnh để đáp ứng với pháp chế Việt Nam. Lúc ban đầu, khả năng cao là các chứng chỉ NVDR chỉ được phát hành cho khoảng 10% vốn điều lệ của các công ty niêm yết. Như vậy, NĐTNN có thể mua đến 59% vốn của các công ty niêm yết.

Phương án thứ hai là cho phép các doanh nghiệp phát hành một loại cổ phiếu mới không có quyền biếu quyết, theo yêu cầu của doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài.

Các biện pháp trên đều tích cực cho TTCK vì sẽ cho phép các NĐTNN tham gia nhiều hơn vào TTCK Việt Nam. SSI cho rằng việc cho tăng room thêm 10% cổ phần bao gồm hoặc không có quyền biểu quyết, nếu thực hiện, có thể sẽ đưa TTCK Việt Nam vào “tầm ngắm” của nhiều nhà đầu tư hơn, do tỷ lệ cổ phiếu tự do sở hưu và chuyển nhượng cao hơn. Điều này không những có lợi cho các cổ phiếu đã hết room, mà các cổ phiếu khác cũng được hưởng tác động tương hỗ.

Theo ông, Việt Nam có nên gỡ bỏ mức trần 49% room của khối ngoại hay không?

Khi trao đổi với các NĐTNN về các phương án mà các cơ quan chức năng đang cân nhắc và xem xét để nâng cao mức room cho các NĐTNN, hầu hết đều mong muốn Việt Nam sẽ gỡ bỏ hoàn toàn mức trần 49% của khối ngoại. Việc cho tăng room càng nhiều sẽ đưa TTCK Việt Nam vào “tầm ngắm” càng cao của các NĐTNN hơn, do tỷ lệ cổ phiếu tự do sở hữu và chuyển nhượng cao hơn và sẽ có lợi cho tất cả các cổ phiếu niêm yết.

Tiếp xúc với nhiều NĐTNN, ông nhận thấy những nhà đầu tư này đang trông đợi gì ở TTCK Việt Nam? Theo ông, những vướng mắc nào cần được tháo gỡ để thu hút dòng vốn từ nước ngoài chảy vào TTCK Việt Nam như giai đoạn năm 2006-2007?

Trong năm 2006-2007, các NĐTNN vừa khám phá TTCK Việt Nam, ngay khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng là năm mà Việt Nam thu hút rất nhiều đăng ký vốn đầu tư FDI. Nhưng sau đó, khủng hoảng tài chính trên thế giới đã làm chậm lại các nguồn đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp (FII) vào Việt Nam. Năm 2013 có thể là năm mà các NĐTNN sẽ trở lại và tăng mạnh việc đầu tư vào Viêt Nam, bởi những động cơ nêu trên.

Nhưng trong 5 năm vừa qua, các NĐTNN đã phải vướng vào các thủ tục hành chính còn rườm rà, các rào cản của chính sách (như mức trần room) đối với các NĐTNN. Hơn nữa, quyền lực kinh tế cao nhưng kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, mức bất ổn định của nền kinh tế vĩ mô và trong hệ thống ngân hàng đã làm cho các nhà đầu tư giảm niềm tin trong việc đầu tư vào Việt Nam. Nếu Chính phủ quyết liệt thực hiện cụ thể các đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp nhà nước và tự do hóa TTCK, thì TTCK có khả năng cao tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong trung và dài hạn.

Xin cảm ơn ông!

Theo Nguyễn Sơn

NDHMoney

thanhhuong

Từ Khóa:
Trở lên trên