Những năm gần đây, thị trường chứng khoán thể hiện rõ vai
trò một kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp. Đặc biệt trong năm
2010, khi mà chi phí đi vay quá cao, nhiều doanh nghiệp đã tìm đến thị trường
chứng khoán như giải pháp số một để huy động vốn cho sản xuất kinh doanh.
Tuy
nhiên, những điều kiện ràng buộc ngày càng chặt chẽ về Luật cũng như lo ngại
nhà đầu tư về vấn đề phát hành pha loãng đã khiến cho kênh huy động này đang
trở nên kém hấp dẫn. Trong khi đó kênh phát hành riêng lẻ vẫn đang ách tách.
Sự kết hợp giữa phát
hành riêng lẻ và trái phiếu chuyển đổi
Ngày 24/11/2010 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 12 đã thông
qua Luật Sửa đổi, Bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Trong đó vấn đề
được khá nhiều nhà đầu tư quan tâm là “Hợp đồng góp vốn đầu tư”được bổ sung vào
điều 6 của Luật chứng khoán.
Theo Luật Chứng khoán sửa đổi thì “Hợp đồng góp vốn đầu tư
là hợp đồng góp vốn bằng tiền hoặc tài sản giữa các nhà đầu tư với tổ chức phát
hành hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận và được phép chuyển đổi thành chứng khoán
khác.”
Như vậy, theo như định nghĩa mà Luật Chứng khoán sửa đổi đưa
ra thì doanh nghiệp có thể đi vay nhà đầu tư một khoản tiền X, khi đến hạn trả
nợ thì thay vì trả tiền cho nhà đầu tư thì doanh nghiệp có thể hoán chuyển
khoản tiền X thành số cổ phần tương ứng, hay nói cách khác đây chính là việc
hoán chuyển nợ thành vốn cổ phần.
Có thể nói hình thức này khá giống với hình thức trái phiếu
chuyển đổi được các doanh nghiệp sử dụng trước đây, là việc hoán chuyển nợ
thành vốn cổ phần.
Tuy nhiên với trái phiếu chuyển đổi thì doanh nghiệp phát
hành phải làm ăn có lãi trong năm trước đó mới được huy động bằng hình thức
này, trong khi đó với Hợp đồng góp vốn đầu tư, thì theo ý kiến của chúng tôi
thì đây là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của hai bên nên sẽ không có sự
ràng buộc về lỗ lãi.
| “Điều 6: Chứng khoán
bao gồm: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền
chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. c) Hợp đồng góp vốn đầu tư; d) Các loại chứng khoán khác được thực hiện theo hướng dẫn
của Bộ Tài chính.” “ Trích Luật chứng khoán sửa đổi” |
Hiện nay chưa có thông tư hướng dẫn về “Hợp đồng góp vốn đầu
tư” cũng như quy định về vấn đề hạn chế chuyển nhượng khi huy động vốn bằng
hình thức này, tuy nhiên chúng tôi cho rằng dù có bị hạn chế chuyển nhượng 1
năm thì hình thức huy động này cũng ưu điểm hơn nhiều so với việc phát hành
riêng lẻ.
Vì Hợp đồng góp vốn đầu tư là sự thỏa thuận giữa hai bên nên tới một
thời điểm nhất định, tùy vào tình hình thị trường, nhà đầu tư có quyền chọn lựa
giữa việc nhận lại tiền hay chuyển thành cổ phiếu, tất cả vấn đề này sẽ được
thỏa thuận trong Hợp đồng giữa hai bên khi ký kết ban đầu.
Nói một cách dễ hiểu thì Hợp đồng góp vốn đầu tư sẽ là một
sự kết hợp giữa Phát hành riêng lẻ và Trái phiếu chuyển đổi.
Quyền lợi cổ đông
hiện tại có thể bị ảnh hưởng?
Hiện nay Bộ Tài chính vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn
cho hình thức huy động vốn mới này. Dưới góc độ của chúng tôi thì văn bản hướng
dẫn sẽ rất quan trọng, nếu không quy định chặt chẽ thì có thể gây tác động
nhiều đến quyền lợi của các cổ đông.
Thứ nhất. với hình thức này, nếu như không có quy định rằng
Hợp đồng góp vốn đầu tư này phải được ĐHCĐ thông qua trước khi ký kết thì có
thể thể xảy ra trường hợp “tiền trảm hậu tấu”, nghĩa là doanh nghiệp có thể đi
vay tiền bên ngoài sau đó chuyển thành cổ phiếu và “ép” ĐHCĐ phải thông qua.
Ví dụ : Doanh nghiệp A vay của ông B số tiền 10 tỷ đồng dưới
hình thức Hợp đồng góp vốn đầu tư. A và B thỏa thuận với nhau rằng, đến thời
điểm năm Y thì khoản nợ này sẽ được chuyển thành số lượng cổ phiếu tương ứng.
(Lưu ý: Theo Luật doanh nghiệp thì đối với những khoản vay dưới 50% tổng giá
trị tài sản thì không cần ĐHCĐ thông qua trừ khi điều lệ doanh nghiệp có quy
định khác)
Tuy nhiên, theo Luật chứng khoán thì để có thể chuyển khoản
nợ thành cổ phần thì vấn đề này phải được ĐHCĐ thông qua. Do đó trong hợp đồng
giữa 2 bên có thể kèm theo điều khoản là:
1. Việc chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ được trình ĐHCĐ thông
qua trong ĐHCĐ thường niên năm Y.
2. “Nếu ĐHCĐ không thông qua việc chuyển 10 tỷ đồng thành cổ
phiếu thì A sẽ phải trả cho B tiền gốc cộng với lãi suất”.
Với điều khoản này, Ban Lãnh đạo doanh nghiệp có thể liên
kết với ông B để ép ĐHCĐ vào thế “không thông qua không được”. Chỉ bằng cách
đưa ra một mức lãi suất cao thì nếu như ĐHCĐ không thông qua thì các cổ đông sẽ
bị thiệt hại do doanh nghiệp phải chi ra một khoản tiền lớn đê trả nợ gốc kèm
theo khoản lãi suất cao hơn cả việc đi vay ngân hàng. Bên cạnh đó việc lãi vay
có được chuyển thành cổ phiếu hay không cũng là một khía cạnh quan trọng.
Với
ví dụ trên, nếu lãi suất cho vay là 15%, thì như vậy khoản lãi vay 1,5 tỷ đồng
sẽ được chuyển thành cổ phiếu hay trả bằng tiền cho ông B cũng cần được cân
nhắc. Sẽ có trường hợp 2 bên đưa ra một mức lãi suất cao bên cạnh việc ép ĐHCĐ
thông qua còn nhằm mục đích biến khoản lãi vay này thành cổ phiếu.
Thứ hai, về giá chuyển đổi, nếu không có quy định cụ thể thì
Ban Lãnh đạo công ty và ông B có thể lợi dụng việc này để đầu cơ cổ phiếu của
doanh nghiệp A.
Ví dụ: Nếu không quy định giá chuyển đổi cụ thể, Ban Lãnh
đạo công ty sẽ thỏa thuận với ông B giá chuyển đổi là 10.000 đồng/ cổ phiếu.
Như vậy số tiền 10 tỷ đồng của ông B sẽ được chuyển thành 1 triệu cổ phiếu.
Trong trường hợp giá cổ phiếu công ty A đang được giao dịch với mức giá 20.000
đồng/ cổ phiếu thì ông B có thể bán khống 1 triệu cổ phiếu công ty A với giá
20.000 đồng/ cổ phiếu. Sau đó dùng 1 triệu cổ phiếu vừa được chuyển đổi để trả
lại. Như vậy Ban lãnh đạo công ty A và ông B sẽ có được một khoản lợi nhuận
lớn.
Hướng giải quyết
Hợp đồng góp vốn đầu tư, hình thức huy động vốn mới hứa hẹn
sẽ mở thêm một cánh cửa mới cho doanh nghiệp tiếp cận vốn được dễ dàng. Nhưng
đây cũng có thể là con dao hai lưỡi cho chính các cổ đông và doanh nghiệp nếu
không được kiểm soát. Như hai ví dụ chúng tôi đã phân tích ở trên, quyền lợi cổ
đông sẽ bị ảnh hưởng nếu có sự liên kết nhằm trục lợi cho cá nhân của Ban lãnh
đạo doanh nghiệp và bên cho vay. Vì vậy, chúng tôi cho rằng các văn bản hướng
dẫn sắp ban hành nên nhắm vào giải quyết các vấn đề sau đây nhằm bảo vệ cho
quyền lợi của các cổ đông:
- Hợp đồng góp vốn đầu tư phải được ĐHCĐ thông qua trước khi
được ký kết.
- Khoản lãi suất cho vay (nếu có) phải quy định một mức
khung phù hợp với thị trường, tránh trường hợp thỏa thuận mức lãi suất quá cao
nhằm chuyển lãi vay thành cổ phiếu.
- Giá chuyển đổi phải tham chiếu theo giá thị trường để hạn
chế hoạt động đầu cơ trục lợi của Ban lãnh đạo và bên cho vay.
Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn nên có độ mở nhất định, bởi vì
nếu Luật quy định quá chặt chẽ về việc hình thức này phải được Cơ quan quản lý
phê duyệt hay một mức giá chuyển đổi quá cứng nhắc mà không linh hoạt theo thị
trường … thì vô hình chung sẽ khép lại một cánh cửa vừa được mở ra.
Theo Huỳnh Hữu Đạt & Lương Ngọc Trâm Anh
Bộ phận Phân tích – CTCP Chứng khoán Âu Việt
ĐTCK