TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Lãi suất TPCP cao làm tín dụng đóng băng càng trầm trọng

Lãi suất TPCP cao làm tín dụng đóng băng càng trầm trọng

Chính sách huy động Trái phiếu Chỉnh phủ với lãi suất cao hơn tiết kiệm ngắn hạn, đang làm nguồn vốn ngân hàng dành cho DN ngày càng cạn kiệt.

Chiều 12/4, trả lời nhà đầu tư về xu hướng thị trường chứng khoán năm 2013, ông Nguyễn Văn Dũng, Tổng giám đốc CTCK Tân Việt (TVSI) cho biết:

Lãi suất năm 2013 đã và sẽ giảm thêm, vì ổn định kinh tế vĩ mô căn bản đã đạt được, đặc biệt là mức lạm phát, tỷ giá ổn định, và lãi suất tiền gửi về cơ bản tương đương năm 2007. Dư địa giảm lãi suất vẫn còn 1-2%/năm.

Lãi suất cho vay có chiều hướng giảm ,do tín dụng đóng băng. Đến đầu tháng 4, KBNN huy động trên 57 nghìn tỷ TPCP; lãi suất tín phiếu 6,7%, TPCP 3-5 năm khoảng 8-9%, 10 năm là 10%; lãi suất liên NH qua đêm 2-4%; thanh khoản NH tốt; lãi suất tiền gửi giảm theo quy luật cung cầu cụ thể là lãi tiền gửi giảm <=7,5% và kỳ hạn trên 1 năm 9-10%; ít NHTM vượt rào.

Dư địa giảm lãi suất vẫn còn nếu NHNN mạnh tay với chính sách chống Dollar hóa như hạ tiền gửi lãi suất USD xuống 1% thay vì 2%/năm áp dụng cho các nhân, khi đó VND có thể hạ thêm 1% lãi suất.

"Tôi không thể đoán được chỉ số chứng khoán năm 2013 là bao nhiêu điểm. Tuy nhiên, nếu bạn biết câu nói của nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett: 'Giá cổ phiếu tăng xảy ra một trong ba điều kiện: Lãi suất giảm; GDP tăng trưởng cao hơn năm trước; và Lợi ích cổ đông tăng' thì tìm ngay ra câu trả lời - ông Nguyễn Văn Dũng chia sẻ.

Lơi ích cổ đông có thể gia tăng, tôi chỉ khái quát chung (tất nhiên tùy từng cổ phiếu có thể tăng hay giảm, bạn phải xem xét kỹ), vì các lý do: Chính phủ đã nhận biết được hầu hết các nguyên nhân gây ra yếu kém của nền kinh tế, và đã đề ra các giải pháp: Thông qua đề án tái cơ cấu nền kinh tế, đang triển khai đề án tái cấu trúc hệ thống NHTM, và thông qua Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ nhằm hỗ trợ hâm nóng thị trường BĐS, xử lý nợ xấu, và hỗ trợ các doanh nghiệp cụ thể là việc gia hạn thời hạn nộp thuế TNDN năm 2012, và đặc biệt nếu như quốc hội thông qua việc giảm mức thuế phổ thông TNDN từ 25% xuống 23% từ năm 2013 và xuống 20% từ 1.1.2016. Hơn nữa, do lãi suất cho vay giảm, nên các doanh nghiệp vay vốn có điều kiện giảm chi phí thì lợi nhuận sẽ cải thiện, giá cổ phiếu tăng.

Năm 2013 , Quốc hội đã đặt mục tiêu kinh tế : GDP tăng 5,5%; Lạm phát thấp hơn con số 2012 (tức dưới 6,81%); Kim ngạch XK tăng 10%(đạt khoảng 124,3 tỷ USD); Tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch XK ở mức 8% ; Tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP không quá 4,8%.

Theo dự báo của các tổ chức quốc tế IMF, WB, và các NHTM quốc tế , và qua tình hình kinh tế quý I, khả năng GDP tăng 5,7% cho năm 2013, và năm 2014/ 2015 GDP tăng trưởng quay lại mức 7% nếu áp dụng quyết liệt các giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế. Thực tế quý 1/2013, GDP đã tăng 4,89% (quý 1/2012: GDP tăng 4,75%).

Ngoài ra còn một số yếu tố có tác động tích cực đến TTCK như mặt bằng giá cả cổ phiếu trên TTCK quá rẻ so với các nước trong khu vực; Thị trường BĐS tiếp tục suy yếu; Chính sách chống đô la hóa, và vàng hóa đang phát huy tác dụng, làm giảm sức hấp dẫn của dân chúng khi tích lũy vàng và ngoại tệ; Dự trữ ngoại hối quốc gia tăng mạnh so với các năm trước.

Đồng thời, dự trữ ngoại hối và vàng của trong dân vẫn còn nhiều. Khác với quốc gia khác , người dân mắc nợ thẻ tín dụng, và nợ thế chấp mua nhà, người dân VN mắc nợ ít, ngoại trừ các DN kinh doanh mặc nợ do dùng đòn bẩy nhiều trong chu kỳ kinh tế những năm 2007.

Nền kinh tế VN thuộc nhóm đang phát triển “Emerging Market” , với dân số 90 triệu và lực lượng lao động trẻ, nên nhu cầu tiêu dùng còn lớn so với các nước đã phát triển khi bị khủng hoảng. Nền kinh tế ngầm “chưa thống kê" chiếm tỷ trọng đáng kể, theo ước tính khoảng 20-30% GDP chưa đưa vào con số thống kê chính thức. Là nguồn lực đáng kể giúp nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng.

Rủi ro tiềm ẩn lớn nhất là lạm phát

Tuy nhiên, năm 2013 vẫn có những rủi ro có thể xóa hết những yếu tố tích cực trên.Các rủi ro này là: Rủi ro lớn nhất là lạm phát còn tiềm ẩn, có liên quan đến một số chính sách: 1) Lương tối thiểu theo 4 vùng tăng từ 1/1/2013. Một mặt nâng cao thu nhập người dân, làm tăng nhu cầu tiêu dung.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế suy giảm, tiền lương tăng như một cú sốc tiêu cực đối với doanh nghiệp. Mức tăng không nhiều song sẽ tạo áp lực tăng giá, do có thể gây ra lạm phát tâm lý; 2) Giá điện tăng: kể từ 22/12/2012 , giá điện tăng 5% lên mức giá điện bình quân là 1.437đ/KW. Đây là lần tăng thứ 2 kể từ 1/7/2012 của EVN.

Dù chiếm tỷ trọng nhỏ chi phí của hoạt động sản suất, và chi phí sinh hoạt của người dân, nhưng việc tăng giá điện ảnh hưởng đến lạm phát, và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là không nhỏ.

Với mức lỗ lũy kế EVN, đồng thời giá đầu vào chịu sức ép tăng giá trong năm 2013 tạo áp lực tăng giá điện, qua đó gây sức ép tăng lạm phát do hiệu ứng chi phí đẩy; 3) Giá dịch vụ giáo dục và y tế tại một số địa phương có thể phải tiếp tục điều chỉnh theo lộ trình; và 4)Không loại trừ khả năng có những đột biến về giá dầu thô trên thị trường thế giới.

Lãi suất cho vay đối với nền kinh tế vẫn còn cao so với mức lãi tiền gửi, và mức lạm phát. Do nợ xấu còn cao, và tín dụng đóng băng, cộng với chủ trương của chính phủ là các NHTM phải tự bù đắp xử lý nợ xấu từ nguồn lực của cổ đông, trước sức ép của công luận là lấy từ tiền thuế của dân để xử lý nợ xấu. Hơn nữa, chính sách huy động TPCP của kho bạc với lãi suất cao hơn tiết kiệm ngắn hạn, đang làm nguồn vốn NH dành cho DN ngày càng cạn kiệt, và làm tín dụng đóng băng ngày càng trầm trọng thêm.

Tổng cầu của nền kinh tế có thể tiếp tục suy giảm nếu chính phủ không thực hiện quyết liệt các giải pháp kích thích kinh tế. Nguyên nhân chính giảm tổng cầu là thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm ỏ phân khúc trung cao cấp; năng lực tài chính của doanh nghiệp, và các hộ gia đình đã suy kiệt sau vài năm khủng hoảng chịu mức lãi suất cao, và lạm phát phi mã;

Rủi ro về nguồn tài chính vốn đang khan hiếm trong nền kinh tế có thể bị phân bổ lệch lạc, chảy vào nhóm lợi ích, khi thực hiện chính sách phá băng BĐS, giảm nợ xấu và hàng tồn kho, nếu thực hiện không minh bạch; Rủi ro về độ chễ thực thi chính sách: Do thể chế thiếu giám sát, và sự chống đối của các nhóm lợi ích khi thực thi các giải pháp chính sách của chính phủ: chính sách phá băng BĐS; chính sách tiền tệ, NH; chính sách tài khóa.."

Theo Minh Thư

phuongmai

NDHMoney

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên