tin mới

Nghị định 59: Nút thắt cổ phần hóa đã được tháo?

Nghị định 59/2011/NĐ-CP có một số điểm sửa đổi có ảnh hưởng tích cực tới tiến trình cổ phần hóa DNNN.

Nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các DNNN, Chính phủ đã ban hành nghị định 59/2011/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 109/2007/NĐ-CP trước đây. Sự ra đời của Nghị định 59/2011/NĐ-CP có tạo ra cú hích với tiến trình cổ phần hóa hay không? CafeF đã có buổi phỏng vấn ông Mạc Quang Huy, Phó TGĐ CTCK Thăng Long (“TLS”), xung quanh vấn đề này.

Nghị định 59/2011/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 109/2007/NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN có nhiều thay đổi. Theo ông đâu là điểm sửa đổi căn bản, có ảnh hưởng mạnh nhất tới tiến trình cổ phần hóa DNNN sắp tới?

Theo quan điểm của tôi, Nghị định 59/2011/NĐ-CP có một số điểm sửa đổi có ảnh hưởng tích cực tới tiến trình cổ phần hóa DNNN sắp tới:

·         Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp chỉ bao gồm giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển mà không tính thêm giá trị lợi thế về vị trí địa lý như quy định tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP.

 

Trong thời gian trước đây, việc xác định giá trị lợi thế về vị trí địa lý đã gây ra nhiều bất cập và vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa.

 

·         Việc xác định giá đất đối với trường hợp được giao đất và thuê đất trả tiền một lần thuộc về Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố. Nếu không có ý kiến phản hồi trong thời hạn quy định thì Cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa tạm tính theo giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố công bố và công bố công khai trong phương án cổ phần hóa.

 

Quy định này giúp đẩy nhanh quá trình xác định giá trị doanh nghiệp trong một số trường hợp liên quan đến định giá đất.

 

·         Xử lý số lượng cổ phần không bán hết: không phụ thuộc vào khối lượng cổ phần chưa bán hết chiếm bao nhiêu vốn điều lệ của công ty cổ phần hóa.

 

Cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa được thực hiện điều chỉnh cơ cấu vốn điều lệ để thực hiện thủ tục chuyển DNNN thành công ty cổ phần.

 

·         Quy định giá bán cho nhà đầu tư chiến lược không thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất của cuộc đấu giá công khai, hoặc không thấp hơn giá khởi điểm trong phương án cổ phần hóa được phê duyệt trong trường hợp bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược trước khi đấu giá (Nghị định 109/2007/NĐ-CP quy định không thấp hơn giá đấu thầu thành công bình quân).

 

Như vậy quy định mới tăng cường ưu đãi và chủ động của DNNN trong việc tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược.

Việc quy định tối đa 3 cổ đông chiến lược cho những DN cổ phần hóa có phải là một điểm hạn chế? Quan điểm của ông về quy định này?

Nếu hiểu theo đúng nghĩa, theo tôi mỗi doanh nghiệp không cần đến 3 nhà đầu tư chiến lược. Hạn chế số lượng cổ đông chiến lược sẽ giúp cho việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược được thực hiện kỹ càng hơn.

Đồng thời, khắc phục tình trạng “mượn” tên cổ đông chiến lược để mua dùm cổ phiếu của một số lãnh đạo tại doanh nghiệp cổ phần hóa để tận dụng các ưu đãi cho các nhà đầu tư chiến lược.

Theo quy định mới, ngoài sự ưu đãi về giá thì đổi lại nhà đầu tư chiến lược phải nắm cổ phần ít nhất 5 năm. Tôi nghĩ quy định này là phù hợp bởi các nhà đầu tư chiến lược thường là các nhà đầu tư ngành không có nhu cầu “lướt sóng”.

 Theo ông ngoài những vướng mắc đã được tháo gỡ bởi Nghị định 59/2011/NĐ-CP, thực hiện CPH DNNN còn có những khó khăn gì? Kiến nghị của ông về những khó khăn này?

Việc quy định Kiểm toán Nhà nước tham gia kiểm toán kết quả xác định giá trị doanh nghiệp trước khi công bố đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác than, khai thác mỏ quý hiếm khác có thể sẽ làm chậm tiến trình cổ phần hóa ở các đơn vị này.

Thời gian đối đa để Kiểm toán Nhà nước công bố kết quả kiểm toán là 75 ngày làm việc (gần 4 tháng), là một khoảng thời gian khá dài. Theo tôi, nên nâng mức quy mô vốn nhà nước trên 1000 tỷ đồng mới cần  sự tham gia của Kiểm toán Nhà nước.

Ngoài ra, việc xác định giá trị thương hiệu để vốn hóa thành giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương pháp tài sản hiện nay cũng còn nhiều điểm bất hợp lý, gây khó khăn cho việc xác định giá trị doanh nghiệp. Theo quan điểm cá nhân tôi, nên bỏ việc xác định giá trị thương hiệu theo phương pháp tài sản bởi việc này là không cần thiết và không hợp lý.

Với bối cảnh thị trường chứng khoán hiện nay, nhiều đợt IPO DNNN không thành công như mong đợi. Để hỗ trợ cho kế hoạch IPO các DNNN, theo ông có cần có chính sách hỗ trợ như Nghị định 59/2011/NĐ-CP hay không? Nếu có thì chính sách như thế nào là phù hợp?

Nghị định 59/2011/NĐ-CP đã giải quyết được một số nút thắt của quá trình cổ phần hóa các DNNN. Tuy nhiên, việc cổ phần hóa thành công các DNNN cũng phụ thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô và sự quay trở lại của dòng tiền vào thị trường chứng khoán.

Điều quan trọng không thực sự nằm ở sự hỗ trợ về tài chính  mà là sự cải thiện triệt để hơn các quy định liên quan đến cổ phần hóa để tiến trình này được diễn ra nhanh hơn, minh bạch hơn và hấp dẫn hơn cho nhà đầu tư.

Theo tôi, để tăng tính hấp dẫn của các cuộc cổ phần hóa, cần giải quyết một số vấn đề căn bản sau:

·         Tăng tỷ lệ bán cổ phần hóa ra bên ngoài nhằm tạo tiếng nói của cổ đông thiểu số và cơ hội cho các nhà đầu tư chiến lược thực sự tham gia vào các DNNN sau cổ phần hóa. Chỉ bằng việc tăng cường giám sát của các cổ đông bên ngoài, chúng ta mới kỳ vọng sự thay đổi của DNNN sau cổ phần hóa.

·         Thay đổi cách thức tiến hành cổ phần hóa theo hướng hạn chế sử dụng phương pháp đấu giá mà thiên về dựng sổ bảo lãnh phát hành bởi các ngân hàng đầu tư, đặc biệt đối với các thương vụ lớn. Trong trường hợp đấu giá, nên áp dụng một giá thành công duy nhất cho tất cả các nhà đầu tư tham gia, tương đương mức giá đấu thành công thấp nhất.


·         Thay đổi cách xác định giá khởi điểm tránh tình trạng đưa ra giá khởi điểm quá cao so với giá trị doanh nghiệp đã được xác định.


·         Thay đổi quy định về sử dụng tiền thu về từ cổ phần hóa trong trường hợp phát hành tăng vốn, theo đó phần thặng dư vốn từ việc bán cổ phiếu ra bên ngoài phải được giữ lại hoàn toàn cho doanh nghiệp, phục vụ quyền lợi của tất cả các cổ đông.


·         Cần có chế tài để niêm yết các DNNN sau cổ phần hóa trong khoảng thời gian tối đa là 6 tháng, nhằm tăng cường tính minh bạch và thanh khoản cho cổ phiếu.

Cao Sơn

  Xem theo ngày : 
Copyright 2007 - Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VCCorp).
Tầng 16,17,18 - Toà nhà VTC online
Số 18 Tam Trinh, HBT, Hà Nội
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên internet số 1084/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 16 tháng 4 năm 2014.
Ban biên tập CafeF, Tầng 18, tòa nhà VTC Online.
Số 18 Tam Trinh, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: 04-39743410 Máy lẻ 295. Fax: 04-39744082
Email: info@cafef.vn - Đường dây nóng: 0922 096 886
Ghi rõ nguồn "CafeF" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
 
Liên hệ quảng cáo: Ms. Hương
Mobile: 0934 252 233
Email: doanhnghiep@admicro.vn
Hỗ trợ & CSKH : Ms. Thơm
Mobile: 01268 269 779
 
Thỏa thuận chia sẻ nội dung