TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

NHNN nên nới lỏng chính sách tiền tệ

NHNN nên nới lỏng chính sách tiền tệ

Với tình hình TTCK hiện nay, Ngân hàng Nhà nước nên có hướng nới lỏng chính sách tiền tệ, bằng việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống 8%.

Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát là một trong những yếu tố tác động mạnh tới thị trường trường chứng khoán. Trao đổi với báo giới, ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng Thư ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính (VAFI) cho rằng, chính sách tiền tệ “thắt” và “mở” phải hài hoà thì mới có tác dụng tốt với cả nền kinh tế lẫn thị trường tài chính.
 
Theo ông, chính sách tiền tệ nên “thắt” và “mở” ở đâu?

Chính sách thắt chặt tiền tệ hiện nay không nên theo tiêu chí khống chế tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại là 30% hay với tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao là 11%, cộng với tỷ lệ mua tín phiếu bắt buộc.

Với tình hình hiện nay, Ngân hàng Nhà nước nên có hướng nới lỏng chính sách tiền tệ, bằng việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống 8%. Việc giảm này sẽ làm hạ giá thành sản phẩm hạ, kích thích đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh ở nhiều ngành đang có lợi thế phát triển và như vậy sẽ góp phần giảm lạm phát. Chính sách thắt chặt tiền tệ nên hướng vào những ngành không có lợi cho sản xuất, kinh doanh, hay những dự án đầu tư công kém hiệu quả hoặc chưa cần thiết.

Như vậy, có nên dừng việc cho vay đầu tư chứng khoán?

Việc không cho vay đầu tư chứng khoán nữa là đúng, nhưng phải có lộ trình để không làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Theo đó, các hợp đồng cho vay chứng khoán đã ký kết vẫn phải được tôn trọng. Đối với những hợp đồng mới, tỷ lệ cho vay không quá 30% trị giá tài sản cầm cố. Sau thời gian thực hiện (khoảng 6 – 9 tháng), thì tỷ lệ cho vay phải giảm xuống không quá 20% và cứ như vậy sau 2 năm thì chấm dứt việc cho vay đầu tư chứng khoán cho tổ chức và cá nhân dưới mọi hình thức. Đây là giải pháp phát triển bền vững thị trường chứng khoán.

Việc thắt chặt tiền tệ có đẩy lùi được tình trạng lạm phát, thưa ông?

Chúng ta chưa tìm hiểu kỹ những nguyên nhân gây ra lạm phát và lý do không chỉ nằm ở chính sách tiền tệ.
Giá thực phẩm tăng cao thời gian qua là do giá lương thực trong nước và thế giới tăng, giá thức ăn gia súc tăng, thiên tai…
 
Do đó, giải pháp để kiềm chế giá thực phẩm tăng không phải là thắt chặt tín dụng đối với người nông dân, mà ngược lại Chính phủ cần có chính sách đặc thù để gia tăng nguồn thực phẩm tiêu dùng trong nuớc và xuất khẩu. Mặt khác, Bộ Y tế cần có những giải pháp phòng ngừa dịch bệnh từ xa.

Không nên thắt chặt tín dụng đối với người sản xuất lương thực, mà ngược lại cần có chính sách hỗ trợ đặc biệt cho người sản xuất lương thực thông qua hệ thống ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng phát triển nông thôn Việt Nam.
 
Chúng ta không sợ rủi ro tín dụng xảy ra đối với người nông dân, nếu có chính sách thuế xuất khẩu gạo hợp lý để bù đắp cho những rủi ro này.

Nhiều mặt hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng tăng giá nhanh và tốc độ tăng giá đầu ra cao hơn so với đầu vào. Điều này có thể dễ nhận biết trong kết quả kinh doanh quý I/2008 của nhiều công ty niêm yết. Nguyên nhân nào dẫn đến sự tăng giá này?

Ngoài nguyên nhân do ảnh hưởng của lạm phát, còn có nguyên nhân quan trọng là do quan hệ cung cầu, sự tăng trưởng đột biến của nội tại nền kinh tế đã tạo ra cầu nhiều hơn cung.
 
Ngoài ra, đối với nhiều doanh nghiệp, giá cả nguyên vật liệu (đầu vào) tăng 20 - 40%, thì dòng vốn lưu động cũng phải tăng lên tương ứng (nếu như so sánh sản lượng sản xuất không thay đổi). Điều này càng làm cho doanh nghiệp cần nhiều vốn hơn so với trước.
 
Trong khi đó, việc huy động vốn từ chứng khoán trở nên khó khăn, nên cầu về vốn vay càng gia tăng, làm phát sinh chi phí vốn cho doanh nghiệp.
 
Theo Hải Bằng
Báo Đầu tư

thanhtu

Trở lên trên