TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Phải thay đổi từ khâu đàm phán

Phải thay đổi từ khâu đàm phán

Bên cạnh nhiều công trình sử dụng vốn ODA đã hoàn tất và đang phát huy hiệu quả đối với nền kinh tế của Việt Nam, việc đàm phán và sử dụng vốn vay ODA thời gian qua cũng đã bộc lộ khá nhiều bất cập. Nếu như vụ PMU 18 là dịp để nhìn lại thực tế quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam thì vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ lại là cơ hội để mổ xẻ hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn này trong tình hình mới...

Một kỹ sư trẻ người Nhật tham gia các dự án xây dựng cầu đường được thực hiện bằng nguồn vốn ODA tại Việt Nam có thể được nhận khoản tiền lương 7.000 đô la/tháng, trong khi nếu ở Nhật Bản, anh ta chỉ có thể nhận 3.000-4.000 đô la. Sự chênh lệch được giải thích như là một hình thức “phụ cấp” cho việc xa nhà. Đấy là một kỹ sư bình thường, còn đối với cấp trưởng tư vấn giám sát, lương có thể lên tới 35.000-40.000 đô la/tháng. Đó là con số mà các kỹ sư Việt Nam không bao giờ dám mơ đến, dù rằng trình độ và tính chất công việc có thể ở mức tương đương. Nhiều phần việc được chuyên gia nước ngoài nhận với chi phí rất cao, sau đó thuê lại chuyên gia trong nước với giá rẻ. Khác biệt lớn về lương chuyên gia trong các dự án sử dụng vốn ODA là một thực tế kéo dài trong nhiều năm và hầu như đã được chấp nhận như là một phần của cuộc chơi.

 

Một số đối tác cung cấp ODA cho Việt Nam, trước khi ngồi vào bàn đàm phán đã công khai các điều kiện kèm theo. Chẳng hạn, các nước châu Âu thường đưa ra điều kiện phải sử dụng trang thiết bị, vật tư và dịch vụ tư vấn của doanh nghiệp nước đó. Họ cũng thẳng thắn rằng đó là những điều kiện được áp dụng chung cho nhiều nước đi vay khác, không riêng gì đối với Việt Nam.

 

Không chỉ vậy, trong quá trình đấu thầu, bên cho vay vẫn có thể đưa ra các điều kiện mang tính “đánh đố” đối với nước đi vay. Hệ quả là các nhà thầu trong nước không thể nào chen chân vào được, chỉ có thể chấp nhận vai trò thầu phụ. Dự án thủy điện Hàm Thuận - Đami là một dự án mà về quy mô, Tổng công ty Sông Đà hoàn toàn có thể đảm đương sau khi đã làm được nhà máy lớn hơn là Thủy điện Hòa Bình. Thế nhưng sau đó, Sông Đà cũng đành thua vì không đáp ứng được các tiêu chí như phải từng làm bao nhiêu thủy điện lớn, doanh số mỗi năm phải đạt bao nhiêu tỉ đô la... Đối với một nước mà hầu như mọi thứ đều chỉ mới bắt đầu như Việt Nam, những điều kiện liên quan đến khối lượng như vậy là rào cản rất khó vượt qua.

 

Ông Vũ Khoa, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu Việt Nam nói, trong nhiều năm qua, các nhà thầu Việt Nam đã phải chấp nhận chuyện này dù biết thừa là không công bằng. Nhưng đã đến lúc, theo ông Khoa, cần phải thay đổi ngay từ khâu đàm phán, nếu không thì Việt Nam sẽ tiếp tục chịu thiệt thòi và do đó, hiệu quả thực tế của khoản vay sẽ bị giảm đi. “Chúng tôi hiểu rằng không thể có được công bằng tuyệt đối, nhưng cũng đã đến lúc phải đấu tranh để đạt tới điều đó. Chúng tôi cũng đã rất nhiều lần đề xuất, kiến nghị về vấn đề này”, ông Khoa nói.

 

Trong lần trả lời phỏng vấn TBKTSG mới đây, ông Phạm Sĩ Liêm, Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, nói đối với một số lĩnh vực cụ thể chẳng hạn như cấp thoát nước, nhà thầu trong nước có thể hoàn thành công trình với chi phí chỉ bằng hai phần ba so với nhà thầu nước ngoài. “Ý nghĩa của ưu đãi sẽ là gì trong trường hợp đó, khi mà ODA thậm chí còn “đắt” hơn vay thương mại?” - ông Liêm đặt câu hỏi.

 

Theo một chuyên gia về ODA, hầu như nước cho vay nào cũng có các quy định có lợi cho họ. Nhưng gần đây, thái độ của các nước đi vay cũng đã thay đổi dần, không phải chỉ một mực chấp nhận như trước đây mà đã bắt đầu lên tiếng đòi hỏi sự công bằng. Đỉnh cao của cuộc “đấu tranh” này là vào năm 2005, tại một hội nghị toàn cầu về ODA, nhiều nước đi vay đã cùng ký vào một kiến nghị đòi các nước cho vay phải bỏ một loạt điều kiện bất hợp lý. Cho dù kiến nghị này chưa được chấp thuận, đây có thể được coi là một cách nhìn nhận mới.

 

Nhưng liệu chúng ta có thay đổi được tình hình? Câu trả lời trên thực tế lại nằm ở phía người đi vay. Bởi vì suy cho cùng thì câu chuyện ODA cũng là câu chuyện lợi ích, mà lợi ích thì chỉ có thể được quyết định thông qua đàm phán.

 

Một chuyên gia về ODA nói, vấn đề lớn nhất đối với các nước như Việt Nam là quá khát vốn, tới mức nhiều khi phải cắn răng chấp nhận cả những điều kiện bất lợi. Chấp nhận riết rồi thành thông lệ. Nhưng đến một thời điểm nào đó khi mà việc huy động vốn không còn quá khó khăn nữa thì Chính phủ cần có cách lựa chọn khôn ngoan. Đối với các điều kiện “cứng” của bên cho vay, chẳng hạn bắt buộc sử dụng trang thiết bị vật tư “chính quốc”, thì việc đàm phán để thay đổi là khá khó khăn. Tuy nhiên, đối với những điều kiện “mềm”, chẳng hạn như lãi suất, thời gian vay, thời gian ân hạn... thì hoàn toàn có thể đàm phán được. Nhưng điều đó sẽ phụ thuộc vào vị thế và tiềm lực tài chính thực tế của bên đi vay.

Theo Nghệ Nhân

TBKTSG

thanhtu