TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Quỹ đầu tư: Thách thức về hiệu quả thực

Quỹ đầu tư: Thách thức về hiệu quả thực

Quỹ ETF Van Eck sở hữu 5,7 triệu cp BVH, nếu muốn bán phải mất tới hơn 33 ngày bán liên tiếp cổ phiếu BVH để tất toán danh mục.

Một trong những điểm gây sự chú ý lớn trên TTCK gần đây là sự xuất hiện ngày càng rõ nét của loại hình quỹ đầu tư chỉ số (ETFs), xuất phát từ nước ngoài, chuyên đầu tư vào các cổ phiếu blue-chip.

Loại quỹ này liên tục thắng thị trường về hiệu quả hoạt động và chỉ trong 1 năm, quy mô chứng chỉ quỹ của 2 quỹ đầu tư chỉ số đã tăng thêm 2,6 lần, cho thấy mức độ ưa thích của nhà đầu tư ngoại vào TTCK Việt Nam thông qua kênh đầu tư vào loại hình quỹ này. Tuy nhiên, đánh giá bản chất lợi nhuận của các ETF nếu chỉ nhìn vào giá trị tài sản ròng (NAV) là chưa đủ, vì những đặc điểm riêng biệt của số cổ phiếu đang nằm trong danh mục đầu tư của 2 quỹ trên.

Trong danh mục đầu tư của quỹ mở Market Vectors Vietnam (VNM) cập nhật đến ngày 22/3/2011, thì 9,22% giá trị quỹ phân bổ cho cổ phiếu CTG; 7,5% cho BVH; 6,64% cho VCB; 6,61% DPM; 4,99% VCG và 2,02% HAG. Một quỹ mở khác là FTSE Vietnam ETF tính đến ngày 28/2/2011 cũng có tỷ trọng đầu tư 12,96% vào VIC; 11,89% vào HAG; 6,37% vào VCB; 4,6% vào BVH.

VNM là quỹ có mức giảm NAV từ đầu năm 2011 đến ngày 16/3 thấp nhất trong số những quỹ đại chúng nước ngoài đầu tư tại Việt Nam và FTSE Vietnam ETF cũng thuộc top những quỹ có mức thiệt hại nhẹ nhất (hoặc có lãi) trong nhóm này năm 2010.

Có lẽ, đây là lý do khiến số chứng chỉ quỹ của 2 quỹ trên tăng thêm tới 2,6 lần chỉ trong năm 2010, đưa tổng số tiền đầu tư của 2 quỹ mở lên 400 triệu USD (nguồn: Công ty Quản lý quỹ PXP Vietnam). Điều này cho thấy sức hấp dẫn của hai chứng chỉ quỹ mở trên, nhất là trong bối cảnh hiệu quả đầu tư của đa phần các quỹ đều không như mong đợi.

Tuy nhiên, đánh giá gửi nhà đầu tư của một quỹ nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam về hiện tượng trên là: Việc 2 quỹ nước ngoài (chỉ VNM và FTSE Vietnam ETF) dùng lượng vốn nước ngoài lớn đầu tư vào số ít những cổ phiếu có khối lượng lưu hành thấp, nhưng có vốn hóa lớn đã gây méo mó đến hiệu quả kinh doanh của quỹ.

Quỹ này, trong một tài liệu khác cũng nhận định rằng: giá trị tài sản ròng của một quỹ đầu tư sở hữu quá nhiều cổ phiếu thuộc nhóm trên, lâu dài sẽ không thể duy trì và về cơ bản, giá trị tài sản ròng của 2 quỹ ETF tại Việt Nam không phản ánh đúng hiệu quả đầu tư. Ở góc độ đánh giá danh mục đầu tư, PXP Vietnam cho rằng, nhiều cổ phiếu có vốn hóa lớn (theo tiêu chuẩn đầu tư của các quỹ FTE) nếu đạt được tiêu chuẩn đánh giá đầu tư của Công ty, thì đều ở mức cao.

Trong số những cổ phiếu được liệt kê ở trên, điều đáng chú ý là BVH đã tăng giá một mạch từ mức 22.800 đồng ngày 9/12/2009 lên mức 103.000 đồng/CP ngày 21/1/2011 trước khi giảm trở lại vào mức 72.500 đồng ngày hôm qua (24/3). Một câu hỏi đạt ra là: tại mức giá hiện tại (BVH 72.500 đồng; MSN 80.000 đồng; HAG 46.500 đồng) liệu có cơ hội nào cho các quỹ đầu tư làm sạch danh mục cổ phiếu?

Đơn cử, VNM đang sở hữu hơn 5,7 triệu BVH, trong khi thanh khoản cổ phiếu BVH luôn ở mức thấp và bình quân 10 ngày gần nhất chỉ khoảng 173.000 cổ phiếu/phiên. Như thế, Van Eck (đơn vị quản lý quỹ VNM) phải mất tới hơn 33 ngày bán liên tiếp cổ phiếu BVH để tất toán danh mục. Nhưng, ai sẽ mua? Và giá sẽ như thế nào là điều thị trường có thể hình dung ra, bởi ngay khi nhà đầu tư nước ngoài bán ròng (từ ngày 15/3), giá BVH đã giảm từ 90.500 đồng về 72.500 đồng và lịch sử giá cho thấy, mỗi lần NĐT nước ngoài bán ròng là một lần BVH giảm giá.

Tương tự như BVH, MSN cũng có một lịch sử tăng giá ấn tượng khi tăng từ mức 33.600 đồng/CP ngày 12/1/2010 lên 93.000 đồng/CP ngày 11/3 trước khi giảm về mức 80.000 đồng/CP ngày 24/3/2011. Mức khớp lệnh trung bình của MSN 10 ngày gần nhất là 12.977 cổ phiếu/phiên. Hay cổ phiếu VIC, giá đã tăng từ 53.500 đồng lên trên 120.000 đồng/cổ phiếu chỉ trong vòng 6 tháng, nhưng thanh khoản luôn ở mức rất thấp, chỉ vài chục nghìn cổ phiếu/phiên. Trong khi đó, VIC lại chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục quỹ FTSE Vietnam ETF, tới 12,96% danh mục trị giá 350,65 triệu USD, tương đương hơn 45 triệu USD (khoảng hơn 922 tỷ đồng, tương đương trên 7 triệu cổ phiếu).

Từ thực trang danh mục của các quỹ ETF cho thấy, nếu chỉ căn cứ vào con số NAV báo cáo thì rất khó đánh giá hiệu quả thực của loại hình quỹ đầu tư nói chung, do lợi nhuận từ danh mục đầu tư ghi nhận trên báo cáo là những con số chưa thực hiện. Với ETF, danh mục đầu tư được công khai, nhưng đây vẫn là một loại rủi ro cho người sở hữu chứng chỉ quỹ. Với các quỹ đầu tư Việt Nam, ngoài rủi ro trên, nhà đầu tư còn phải chịu thêm một loại rủi ro không đo lường được, đó là sự thiếu minh bạch thông tin về quỹ đầu tư.


Nguồn: ĐTCK



Theo Bùi Sưởng
ĐTCK

phuongmai

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên