TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Sau sự kiện Hy Lạp, TTCK đang sợ gì?

Sau sự kiện Hy Lạp, TTCK đang sợ gì?

Khi mà chỉ số Dow Jones mất 1.000 điểm trong một ngày, NĐT có lý do để thận trọng và chọn vị thế kẻ nghi ngờ: lo ngại mặt xấu hơn tin vào mặt tốt.

Phản ứng trong sự kiện Hy Lạp: Rút vào tài sản an toàn và bắt đầu hoài nghi

Ngày 6/5 năm nay là một ngày đáng nhớ của TTCK thế giới khi mà chỉ số Dow Jones rớt xấp xỉ 9%, vì nỗi lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp sẽ lan rộng ra các nước khác. Vào ngày này, bất chấp thông tin nền kinh tế Mỹ có dấu hiệu hồi phục khá tốt qua bảng lương phi nông nghiệp tốt hơn dự đoán với hàng trăm nghìn việc làm mới.

Một mức sụt giảm gần 1.000 điểm của chỉ số Dow Jones trong một phiên khiến nhiều NĐT hoảng sợ. Nhận định của một chuyên gia chiến lược thị trường ở New York đăng trên Bloomberg ngày 7/5 cho thấy sự hoảng loạn là có thật: "Các NĐT đang sợ muốn chết!" (nguyên văn: "Investors are scared to death").

Trong bối cảnh đó, việc NĐT tháo chạy vào các tài sản an toàn là chuyện dễ hiểu. Giá vàng đã tận dụng cơ hội này để bứt phá lên một mức cao mới trong lịch sử.

Trước đó một vài tuần, NĐT đã bán đổ, bán tháo trái phiếu của Hy Lạp và chạy sang mua những loại trái phiếu an toàn hơn như trái phiếu của Chính phủ Đức, khiến lợi suất của trái phiếu chính phủ Đức sụt xuống mức thấp nhất kể từ năm 1990 (giá trái phiếu và lợi suất của trái phiếu có mối quan hệ ngược chiều); lợi suất trái phiếu kỳ hạn 2 năm của Đức chỉ còn có khoảng 0,6%.

Trước đó, vào ngày 26/4, chênh lệch lợi suất của trái phiếu 10 năm của Hy Lạp với trái phiếu 10 năm của Đức đã lên mức cao nhất trong vòng 12 năm - ở mức khoảng 6% (nghĩa là giá trái phiếu Hy Lạp phải thấp hơn nhiều so với giá trái phiếu cùng kỳ hạn của Đức). Điều này cho thấy NĐT trên thị trường trái phiếu đã thật sự bắt đầu tháo chạy vào tài sản an toàn khá lâu trước sự hoảng loạn trên thị trường cổ phiếu ở Mỹ ngày 6/5.

Phản ứng sau gói cứu trợ của châu Âu

Kế hoạch cứu trợ thuộc hàng bom tấn của châu Âu liên kết với IMF để lập quỹ hỗ trợ giải quyết khủng hoảng nợ Hy Lạp lên đến gần 1.000 tỷ USD đã có tác động bình ổn tâm lý NĐT trên thế giới. Ngày 10/5, TTCK Mỹ đón nhận tin này bằng một đợt tăng giá khá mạnh trong vòng một ngày (theo MarketWatch thì đây là đợt tăng giá trong ngày mạnh nhất trong 13 tháng qua). Tuy nhiên, đến cuối tuần qua, chỉ số chứng khoán Mỹ lại một lần nữa mất điểm và nhiều nhà phân tích cho rằng, nỗi lo về Hy Lạp vẫn đang đè nặng lên NĐT.

TTCK đang sợ gì ?

Thứ nhất, NĐT trên các thị trường quốc tế đang lo sợ nếu khủng hoảng nợ lan sang các nước châu Âu khác như Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, thì tổn thất của các ngân hàng đang cho các nước này vay là bao nhiêu tiền? Báo cáo của Andrew Garthwaite thuộc Credit Suisse ước tính số nợ các ngân hàng ở châu Âu đang cho Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vay là khoảng 1,3 nghìn tỷ USD.

Các ngân hàng Mỹ cũng không đứng ngoài cuộc. Ví dụ, JPMorgan đang cho vay hơn 30 tỷ USD (khoảng 28% vốn cấp 1 của ngân hàng này) ở các nước thuộc nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ý, Ireland, Hy Lạp và Tây Ban Nha, đa số đều là các "đầu tàu" về tỷ lệ nợ công/GDP ở châu Âu).

Nhiều nhà phân tích còn cho rằng, mối liên hệ giữa các ngân hàng Mỹ và ngân hàng châu Âu khá phức tạp, do đó số tổn thất mà ngân hàng Mỹ có thể gặp phải còn lớn hơn nhiều các con số được ước tính gần đây.

Những rủi ro này có thể không quá lớn, nếu chỉ xét tới số nợ mà ngân hàng Mỹ hay ngân hàng châu Á cho các nước chìm đắm trong nợ ở châu Âu vay, nhưng những rủi ro về mặt đối tác (counterparty risk) thì có thể nằm ở nhiều chỗ, bao gồm cả các hợp đồng giao dịch ngoại hối, bảo lãnh tín dụng và đặc biệt là các giao dịch qua đêm trên thị trường tiền tệ.

Thứ hai, là lo sợ về khả năng hồi phục chậm của kinh tế khu vực châu Âu. Vì lo ngại rủi ro đối tác, tính thanh khoản trên thị trường trái phiếu, thị trường vay mượn qua đêm trong thời gian qua tương đối thấp.

Điều này sẽ gây khó khăn thanh khoản và vốn cho các ngân hàng nhỏ ở Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Vì cùng trong khối sử dụng đồng tiền chung, NHTW của các nước này không có nhiều công cụ có thể hỗ trợ cho họ. Liệu gói hỗ trợ được NHTW châu Âu và IMF đưa ra có thể giúp các ngân hàng này tới đâu vẫn còn là một ẩn số.

Và đó cũng là một phần lý do vì sao FED phải mở lại các hạn mức hoán đổi tiền tệ với NHTW châu Âu, Canada, Anh và Nhật (một công cụ đã dùng trong giai đoạn căng thẳng của cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua và mới được đóng lại không lâu) để các ngân hàng ở châu Âu có thể vay vốn dễ hơn (một lý do khác để dùng lại công cụ này là vì sợ khủng hoảng lây lan từ ngân hàng châu Âu sẽ làm các ngân hàng Mỹ có liên quan thua lỗ).

Cho dù các ngân hàng châu Âu không gặp khó khăn thanh khoản và vốn thì chính sách thắt lưng buộc bụng (bao gồm cắt chi tiêu công, giảm lương, tăng thuế) trên khắp các nước Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh... cũng sẽ khiến các chi tiêu vào nền kinh tế giảm sút.

Kết quả là tốc độ hồi phục của kinh tế châu Âu vốn đã yếu giờ lại còn kém lạc quan hơn. Thật ra, khủng hoảng nợ ở châu Âu cũng có mặt tốt, vì nó góp phần làm cho đồng Euro giảm, giúp kích thích xuất khẩu ở châu Âu.

Mặt khác, bất chấp những rắc rối của châu Âu, kinh tế Mỹ và nhiều nền kinh tế mới nổi vẫn đang cho thấy những tín hiệu hồi phục.

Nhưng NĐT chứng khoán lo thì vẫn cứ lo. Khi mà chỉ số Dow Jones mất 1.000 điểm trong một ngày, họ có lý do để thận trọng và chọn vị thế kẻ nghi ngờ: lo ngại mặt xấu hơn tin vào mặt tốt.

Thứ ba, liệu có phải chỉ có các nước châu Âu là đang gặp rắc rối về nợ? Những khoản chi khổng lồ để cứu giúp nền kinh tế của Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước châu Mỹ Latin thì sao?

Một bài viết gần đây của Alistair Barr trên MarketWatch nhắc NĐT nhớ tới những quả bong bóng nợ công ở Anh, Mỹ và Nhật, trong đó có nhắc là nợ trên GDP của Nhật cũng đã vượt 200%.

Nghĩa là các nước này cũng có rủi ro và NĐT cũng bắt đầu lo ngại. Điển hình là gần đây có thông tin một số NĐT vào trái phiếu chính phủ Mỹ đang cân nhắc chuyển sang nắm giữ trái phiếu của Canada và Uc, vì tỷ lệ nợ công trên GDP của hai nước này thấp hơn nhiều so với Mỹ.

Tuy nhiên, nếu xét kỹ, tuy cùng có tỷ lệ nợ cao, các nước như Anh, Mỹ, Nhật vẫn còn có nhiều lựa chọn chính sách trong tình huống xấu hơn so với Hy Lạp, vì ít nhất họ còn duy trì sử dụng đồng tiền của mình và linh hoạt hơn trong chính sách tiền tệ.

Mặt khác, dù Nhật có nợ công cao nhưng mà phần lớn chủ nợ lại là người Nhật (khoảng 90% chứng khoán nợ của Chính phủ Nhật là do công ty và người dân Nhật mua). Do đó, nếu họ có gặp rắc rối về nợ công, thì chắc là ở thì tương lai nhiều hơn.

Nói tóm lại, NĐT chứng khoán trên các thị trường phát triển (mà nhiều thị trường đó nằm ở châu Âu) có nhiều lý do để lo ngại. Từ vị thế thoải mái giải ngân và bắt đầu "tham lam", ít lo sợ rủi ro, họ lại phải sợ hãi một lần nữa và bỏ chạy vào các chỗ ẩn nấp cũ.

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận lại, thì nhiều lo sợ có khi đã đi quá xa (hoặc có thể chỉ là quá sớm!), ví dụ như lo sợ về nợ công của Mỹ, Nhật, hay kinh tế thế giới sẽ hồi phục chậm có thể đã đi quá mức.

Còn về khủng hoảng nợ công của khu vực châu Âu, đây chắc chắn sẽ là chuyện dài nhiều tập, vì chương trình cắt giảm nợ công sẽ kéo dài nhiều năm và còn phải theo dõi sát trong thời gian dài.

Nhưng kinh nghiệm đối phó khủng hoảng vừa qua của Mỹ và khu vực châu Âu có lẽ đủ để các nước này khống chế tình hình trong ngắn hạn. Và NĐT sẽ bình tĩnh lại.

Các dòng vốn nước ngoài sẽ ra sao?

Đây là một câu hỏi đáng chú ý hiện nay. Với tình hình rủi ro đối tác tăng cao ở châu Âu, rõ ràng dòng vốn quốc tế sẽ phải tìm nơi khác để đầu tư. Những nước còn được xem là có nhiều tiền từ thặng dư cán cân thanh toán như Đức hay Trung Quốc sẽ phải tìm chỗ nào để đầu tư?

Mỹ và châu Âu sắp tới sẽ có nhiều thay đổi trong kiểm soát thị trường tài chính và chính sách công, trong đó sẽ có tác động đến nhiều định chế tài chính ở Mỹ. Vì vậy, các định chế này và những dòng tiền đầu tư của nó sẽ phải tìm chân trời mới.

Đây là một cơ hội và thách thức cho TTCK Việt Nam. Muốn thu hút dòng vốn quốc tế đang đi loanh quanh tìm chỗ trú ẩn mới, Việt Nam cần phải chứng tỏ mình có khác biệt so với các thị trường mới nổi khác. Vấn đề quan trọng là phải cho thấy các yếu tố vĩ mô của Việt Nam như tỷ giá, nợ công… ổn định và trong tầm kiểm soát.

Theo Hồ Quốc Tuấn, Nghiên cứu sinh tiến sĩ, Đại học Manchester, Anh
Đầu tư chứng khoán


ngocdiep