TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Thị trường chứng khoán Việt Nam đi về đâu?

Thị trường chứng khoán Việt Nam đi về đâu?

TTCK sau một thời kỳ dài ảm đạm, các chính sách đã không đáp ứng được sự “chờ đợi” và không “nghe” được đúng tiếng nói của thị trường quan trọng này.

Chỉ trong vòng một năm kể từ 17.3.2007, chỉ số VN-Index đã từng đạt 1.170 điểm, nay tụt xuống chỉ còn 466,67 điểm vào cuối ngày 15.5. Đặc biệt tổng giá trị giao dịch cũng giảm mạnh từ xung quanh 1.200 tỉ đồng/ngày, xuống còn xung quanh 300 tỉ đồng/ngày. Hôm 15.5 là 125 tỉ đồng.

Trong thị trường tài chính có hai thị trường bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, mối quan hệ mấu chốt nhất là quan hệ giữa thị trường chứng khoán (TTCK) – lõi của thị trường vốn với thị trường tín dụng ngắn hạn – lõi của thị trường tiền tệ!

Vốn trong dân đang nằm ở đâu?

Nếu quan sát ở một số thị trường quan trọng thì thấy: Thị trường bất động sản đang có dấu hiệu điều chỉnh giảm. Giá nguyên, nhiên, vật liệu tăng mạnh làm cho các nhà đầu cơ co lại, tốc độ giải phóng mặt bằng và tốc độ xây dựng theo đó chậm xuống, giá quyền sử dụng đất và bất động sản “đóng băng” và giảm bớt hàm lượng “bong bóng” mặc dù vẫn rất cao so với sức mua.

Thị trường vàng, tuy giá vàng trong nước có giảm, nhưng tốc độ giảm chậm hơn nhiều so với tốc độ giảm giá của thị trường vàng thế giới. Giá vàng thế giới đã xác lập các kỷ lục kế tiếp nhau: từ trên 1.000 USD/ounce vào thời điểm giữa tháng 3.2008 xuống còn 865 USD/ounce tại thời điểm hiện nay, tương đương mức giảm 15,6%.
 
Cùng thời gian đó, giá vàng trong nước chỉ giảm từ 1.920.000đ/chỉ xuống 1.718.000đ/chỉ, giảm 11,7% do cơ chế độc quyền của chỉ một vài doanh nghiệp được phép nhập khẩu vàng chi phối...
 
Thị trường ngoại hối: về cơ bản tỷ giá VND/USD được “neo” ổn định, mặc dù có giảm cả năm 2007. Gần ba tháng đầu năm 2008 đồng USD liên tục sụt giảm, có lúc đã chạm được tới con số 15.300VND/USD trên thị trường tự do.
 
Nhưng từ tuần cuối tháng ba cho đến thời điểm này, đồng USD đã lại tăng giá trở lại so với VND, ngay cả khi nó giảm giá rất mạnh so với hầu hết các đồng tiền mạnh khác và đã trải qua gần 10 lần FED cắt giảm lãi suất tái cấp vốn từ 5,25% xuống chỉ còn 2%/năm!
 
Trong khi Ngân hàng Nhà nước hầu như rất cẩn trọng trong việc bơm tiền ra mua ngoại tệ và đang thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, thì gần đây thị trường ngoại tệ đã xuất hiện nhu cầu đòi Ngân hàng Nhà nước bán USD ra. Chứng tỏ có một khối lượng tiền đồng tiềm tàng đang nằm “chờ” trong tay các “nhà” đầu cơ để sẵn sàng thao túng thị trường.

Vậy đã khá rõ vốn đang nằm ở thị trường bất động sản, vàng, ngoại tệ... và phần lớn vốn tham gia vào lạm phát.

Vì sao xuống dốc?

Trở lại TTCK, bài toán đặt ra là giải pháp nào cho TTCK thực sự đủ hấp dẫn để thực hiện sứ mệnh số một là huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế đúng địa chỉ, có hiệu quả?

Lý do mà TTCK không hấp dẫn có thể có nhiều trong các quan hệ khách quan khác thuộc tiềm lực và trình độ dân trí của nền kinh tế. Song những lý do nội tại, mang tính chủ quan là rất cần phải nhận dạng và khắc phục. Các lý do chính thuộc nhóm này là:

– Hàng hoá trên TTCK hiện có đang kém về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu và đặc biệt là giá IPO mang tính áp đặt tại thời điểm xuất phát đã bị đẩy lên rất cao so với giá trị thị trường của hầu hết các hàng hoá.

– Về cơ cấu, các “ông” chủ của TTCK Việt Nam đã vô hình trung lái nhà đầu tư hướng nhiều sự quan tâm về việc phát hành và buôn bán chứng khoán vốn (cổ phiếu) hơn là sự quan tâm đến chứng khoán nợ (trái phiếu...) – một công cụ tài chính hữu hiệu nhất trong việc “nối” TTCK với thị trường tiền tệ, tín dụng trong vai trò “chạy tiếp sức” và làm tăng tính thanh khoản cho TTCK.

Tại thời điểm hiện nay, tổng giá trị chứng khoán nợ chỉ chiếm 16% tổng giá trị hàng hoá giao dịch trên TTCK. Thậm chí TTCK đã có 8 năm tuổi mà hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam không có một đồng nào đầu tư vào chứng khoán nợ đủ tiêu chuẩn để tham gia nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, trong khi đó lại thi nhau kinh doanh cổ phiếu (chứng khoán vốn).
 
Do đó khi cần nguồn thanh khoản ngắn hạn ngân hàng phải đi vay lại với giá rất cao trong thị trường liên ngân hàng hoặc huy động giá cao trên thị trường tiền gửi.

– Trong lúc TTCK đang hấp dẫn nhà đầu tư, lúc có nhiều cơ hội phát triển của thị trường sơ cấp với hàng hoá chất lượng cao... thì lại bị trì hoãn, kéo giãn, tính toán quá lâu, gây mệt mỏi cho các nhà đầu tư, vừa mất thời cơ cổ phần hoá với giá có lợi cho các doanh nghiệp nhà nước lớn, vừa làm “lạnh” TTCK đang phát triển mạnh trở lại chưa đầy một năm (từ tháng 10.2006 – 6.2007).

– Mối liên hệ có tính chất bản chất giữa TTCK và thị trường tiền tệ lẽ ra rất gắn bó theo nguyên lý “chạy tiếp sức”, thì ở Việt Nam lại rất rời rạc, thậm chí có tình trạng “gắn bó ngược” theo kiểu “đi vay tiền ngân hàng thời hạn ngắn để mua cổ phiếu vô thời hạn”.

– Trái phiếu chất lượng cao, kỳ hạn dài, lãi suất hấp dẫn của Chính phủ, của các công trình trọng điểm quốc gia biết rõ sẽ có hiệu quả lớn còn chưa có và/hoặc rất hiếm hoi, trong khi ngân sách Nhà nước luôn thâm thủng và Nhà nước luôn phải đi vay trung hạn trong nước và cả ở nước ngoài.

– Hầu hết các nhà phát hành cổ phiếu Việt Nam sau khi “IPO một cách chụp giật” đã bỏ mặc các cổ đông. Thay vì phải trả lợi tức bằng tiền cho nhà đầu tư với tư cách là các cổ đông thì lâu nay lại chỉ trả bằng giấy... “bán giấy lấy tiền” thì cổ đông không thể yên tâm với “quyền” sở hữu công ty của mình được.

– Các nhà quản lý TTCK cũng chủ yếu chỉ quan tâm đến việc lên xuống của chỉ số trên các “sàn” chính thức, ít quan tâm đến TTCK nói chung (cả OTC). Nghĩa là quá quan tâm đến thị trường thứ cấp chính thức, nơi đang bao gồm những hàng hoá cũ do phát hành một cách chụp giật với giá cao, chất lượng thấp chiếm tỷ lệ áp đảo...
 
Thậm chí cho đến khi thị trường rơi vào ảm đạm thì lại ra sức áp dụng đồng loạt các biện pháp hành chính “nhè” đúng vào các điểm nhạy cảm nhất của TTCK là giá cả và niềm tin để “đánh”! Biên độ giá cả giao dịch bị ép lại, gần như bằng 0. Nghĩa là “trò chơi” không còn và kèm theo những “chiến dịch” hình thức, thậm chí công bố không đúng sự thật thì nhà đầu tư rời sàn là lẽ tự nhiên…

Giải pháp nào?

Từ rất nhiều nguyên nhân nói trên và căn cứ vào tiềm năng rất lớn của nền kinh tế Việt Nam, tôi cho rằng có thể và cần phải sử dụng các giải pháp sau đây để kích thích TTCK Việt Nam phát triển ổn định:

Một là: Chính phủ cần phát hành chứng khoán thời hạn dài từ 10 năm trở lên, nhưng lãi suất quy định theo từng giai đoạn mỗi 2 năm một lần theo nguyên tắc đảm bảo cho nhà đầu tư không bị thiệt thòi hơn gửi tiết kiệm 24 tháng cùng giai đoạn.
 
Tiền huy động được từ trái phiếu dài hạn (định lượng mỗi năm huy động một tổng giá trị tương đương với tổng giá trị trả nợ đến hạn trong nước hàng năm) chỉ tập trung vào đầu tư các công trình và dự án trọng điểm cấp quốc gia, được xác định có hiệu quả cao trong các lĩnh vực: phát triển các dự án chế tạo máy móc, công nghệ cao, phát triển kết cấu hạ tầng thành phố, giao thông quốc gia, phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển hệ thống y tế từ cơ sở đến trung ương.

Hai là: Tiến hành IPO các doanh nghiệp nhà nước lớn với giá chủ yếu do thị trường quyết định.

Ba là: Có chính sách bắt buộc tất cả các ngân hàng thương mại phải dành một tỷ lệ nguồn huy động đủ cần thiết để đầu tư vào trái phiếu dài hạn của Chính phủ lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước vừa để góp phần định hướng sử dụng nguồn đúng hiệu quả, vừa làm công cụ an toàn để tiếp cận thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước trong các trường hợp bị báo động vể rủi ro thanh khoản…

Bốn là: Có chính sách thoả đáng để khuyến khích các công ty chứng khoán mở tài khoản tiền gửi lưu ký kinh doanh tại các ngân hàng thương mại. Tiền gửi gồm tiền tự doanh và tiền của nhà đầu tư tại công ty chứng khoán.

Năm là: Có chính sách để khu vực sản xuất, dịch vụ có sử dụng thiết bị nhập khẩu giá trị lớn được xét theo một cơ chế chặt chẽ cho phép phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước kết hợp với chính sách loại bỏ dần tín dụng ngoại tệ.

Sáu là: Có danh mục xếp hạng để hầu hết các chủ sở hữu của các chứng khoán nợ trong danh mục chuẩn được phép sử dụng chứng khoán đó trong việc chiết khấu, tái chiết khấu tại các ngân hàng thương mại để các ngân hàng thương mại bằng nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của mình tạo ra tính thanh khoản cho TTCK.

Theo TS. Nguyễn Đại Lai
SGTT

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên