TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

TTCK năm 2008: Chọn quẻ nào?

TTCK năm 2008: Chọn quẻ nào?

Năm mới, nhiều cơ hội kinh doanh mới được mở ra, nhưng đối với các nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán, năm 2008 có phải là một năm “phát”.

Năm 2007 đã khép lại, đánh dấu một bước trưởng thành về chất và lượng sau những trải nghiệm – khi thăng hoa, lúc nhạt nhòa, cay đắng của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán VN.

Đầu tư – có thể là mục đích với người này, là thách thức với người khác, nhưng cũng có khi chỉ là một sự đua đòi, a dua theo thời cuộc. Dù có động cơ đầu tư như thế nào thì ai cũng muốn mình là người chiến thắng. Bởi vậy, bỏ vốn vào đâu để “tiền đẻ ra tiền“, để „một vốn bốn lời“ luôn là trăn trở, suy tính, đắn đo, cân nhắc của mọi NĐT.

Thời của chứng khoán

Sau chiến thắng vang dội của các NĐT chứng khoán cuối năm 2006, đầu năm 2007, việc đầu tư vào một lĩnh vực vốn được coi là “thị trường vốn bậc cao” đã được nhiều người nhìn nhận như là một cơ hội có một không hai trong đời. Nhà nhà „chơi“ chứng khoán, người người ăn ngủ cùng chứng khoán. Sự “bùng nổ“ của TTCK có thể được xem như một sự kiện kinh tế đáng quan tâm trong năm qua. Sau hơn 7 năm hoạt động, tổng mức vốn hoá của TTCK VN đạt khoảng 30.7 tỷ USD, vẫn thấp xa so với quy mô của nhiều thị trường khác trong khu vực. Mức vốn hoá này tuy đã lên tới trên 50% GDP - vượt mục tiêu 25-30% GDP đề ra cho TTCK đến năm 2010 - nhưng còn khá khiêm tốn khi so với Mỹ (Vốn hoá thị trường/GDP 137%) hay Trung Quốc (75%). Tiềm năng tăng trưởng của TTCK VN, do vậy, vẫn còn khá lớn.

Tính đến hết năm 2007, HoSE đã có 138 cổ phiếu và 3 chứng chỉ quỹ; HaSTC có 111 cổ phiếu đang niêm yết. Tuy vậy, số Cty niêm yết có giá trị vốn hoá đạt từ 1 tỷ USD trở lên hiện mới vẻn vẹn có 10. Ngoài ra, cơ quan chức năng trên cả 2 sàn TP HCM và Hà Nội đang thụ lý khoảng 60 hồ sơ xin đăng ký niêm yết. Quan trọng hơn, việc IPO của một loạt DN lớn của Nhà nước - sau nhiều trì hoãn - gần như chắc chắn sẽ được tiến hành rầm rộ trong năm nay. Như thế, lượng cung trên thị trường niêm yết cũng như OTC sẽ gia tăng mạnh mẽ ngay từ quý I/2008. Nhằm hài hoà lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường, các biện pháp “tăng cung kích cầu“ đang được UBCK nhà nước cân nhắc kỹ lưỡng để có thể sớm trình lên Chính phủ.

Cơ hội trong thách thức

Hai thị trường hùng mạnh nhất là Mỹ (Dow Jones) và Trung Quốc (Shanghai A) có chỉ số chứng khoán tăng trung bình 16.87% và 64.52% trong năm qua là động lực "hút" ngày càng nhiều "nhà đầu tư" đến với chứng khoán. Tuy nhiên, tình hình năm 2008 không hẳn sẽ được lạc quan như vậy. Năm 2007 đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mỹ và lạm phát cao ở Trung Quốc. Những điều này sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý và lòng tin của các NĐT trong thời gian tới. Ngoài ra các xung đột tôn giáo, bất ổn chính trị tại nhiều nơi trên thế giới cũng như việc giá dầu chính thức phá vỡ ngưỡng tâm lý 100 USD/thùng càng thúc đẩy các NĐT đến với những kênh đầu tư an toàn hơn như vàng hay bất động sản.

Tính chung cả năm 2007, VN-Index đã tăng 23.31 % với mức cao nhất và thấp nhất lần lượt là 1.170,67 và 892,88 điểm (± 23,73%). HaSTC cũng tăng trưởng đến 33,7% trong năm qua với các số liệu tương ứng là 459,36 và 246,47 điểm (± 46,34%). Rõ ràng rằng, việc đầu tư dài... 1 năm vào TTCK có thể đem lại lợi nhuận bình quân cao hơn gấp đôi so với gửi tiền tiết kiệm, nhưng nó lại chứa đựng rủi ro cao gấp rất nhiều lần. Khả năng thua lỗ đến xấp xỉ 50% như trên HaSTC cho thấy mức độ rủi ro trên TTCK VN là không thua kém bất cứ đâu trên thế giới, dù các NĐT đã được Nhà nước bảo hộ phần nào thông qua việc khống chế biên độ dao động giá trong 1 phiên ở mức cao nhất ± 10%. Việc đầu tư và mất trắng - do DN phá sản - tuy chưa xảy ra, nhưng độ khốc liệt đến mức „đổi đời“ không phải là điều không thể. Thực tế, nhiều chuyên gia "lướt" đã phải chịu mất đến hơn 80% vốn khi tham gia TTCK đúng trong năm "bùng nổ" vừa qua.

Trong năm 2007, các nguồn vốn ngoại tệ vào VN tăng mạnh, ước đạt 20 tỷ USD. Trong đó riêng vốn đầu tư gián tiếp trên TTCK lên tới trên 5 tỷ USD; số tiền người VN từ nước ngoài gửi về khoảng 8 tỷ USD. Lượng tiền vào mạnh đã khẳng định VN là một địa chỉ hấp dẫn để đầu tư. Tuy nhiên, một thực tế đáng quan tâm là năng lực hấp thụ vốn của VN vẫn chưa được cải thiện, thể hiện ở tốc độ giải ngân chậm trong các dự án đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp. Điều này có thể làm cho các nhà đầu tư nước ngoài nản lòng, từ chỗ tin tưởng dẫn đến hoài nghi về môi trường đầu tư ở VN. Nếu có sự sụt giảm về đầu tư FDI thì luồng vốn FII cũng không có động lực để gia tăng, qua đó sẽ tác động tiêu cực đến TTCK. Nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề trên, một mặt đòi hỏi Chính phủ phải nhanh chóng đạt những tiến bộ mang tính đột phá trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, nâng cấp cơ sở hạ tầng và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Mặt khác cần có những điều chỉnh mềm dẻo, kịp thời và phù hợp với diễn biến của TTCK cũng như thị trường tiền tệ, giúp các thị trường này luôn giữ được "nhiệt" trong năm nay.

Một yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững của TTCK VN chính là nội lực của nền kinh tế. Sau 1 năm gia nhập WTO, quá trình chuyển đổi và hoàn thiện các thể chế kinh tế đã mang tới nhiều cơ hội hơn cho các NĐT. Trong năm qua, Chính phủ đã từng bước cắt giảm tỷ lệ nắm giữ của mình trong nhiều DNNN làm ăn hiệu quả, giúp tăng sự chủ động và tính hấp dẫn cho Cty. Các kế hoạch chuẩn bị niêm yết ở nước ngoài cũng cho thấy quyết tâm chủ động hội nhập sâu rộng của Chính phủ cũng như các DN VN, qua đó tăng thêm niềm tin cho các NĐT.

Hoa nào kết trái?

Trong năm 2008, VN sẽ phải cắt giảm gần 2.000 dòng thuế, nhiều loại hàng rào bảo hộ phải dỡ bỏ theo lộ trình gia nhập WTO. Theo đó, các sản phẩm công nghiệp từ nước ngoài sẽ dễ dàng tiếp cận thị trường và cạnh tranh sòng phẳng với hàng hóa sản xuất trong nước. Một số lĩnh vực nhạy cảm như bảo hiểm, ngân hàng, quản lý dự án, tư vấn thuế hay nhượng quyền thương mại tiếp tục phải mở cửa cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Với uy tín quốc tế, kinh nghiệm thương trường và tiềm lực tài chính nổi trội, các DN nước ngoài có khả năng sẽ chiếm giữ thị phần ngày càng tăng ở VN. Tuy vậy, trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, các DN VN cũng đã có sự chuẩn bị bài bản, chu đáo cho quá trình hội nhập và cạnh tranh toàn cầu. Một số DN đã tận dụng tốt cơ hội mà WTO đem lại để khai phá thị trường mới, gia tăng thị phần và tạo dựng thương hiệu riêng trên thị trường quốc tế. Nhìn chung, DN trong nước hoạt động trong các ngành mà VN có lợi thế cạnh tranh quốc tế như dệt may, thủy sản, đồ gỗ, cao su, nhựa hoặc các ngành còn được Nhà nước bảo hộ như ngân hàng, khai khoáng, viễn thông, phân phối sẽ tiếp tục có điều kiện phát triển trong năm 2008. Các lĩnh vực như cảng biển, bất động sản tuy đã „hé“ cửa cho các NĐT nước ngoài nhưng lợi thế vẫn thuộc về các DN VN do đã chiếm lĩnh được nhiều vị trí đắc địa. Trái lại, thách thức lớn nhất là đối với các DN trong nước hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp hay dân dụng, dệt, kinh doanh XNK, bảo hiểm, công nghệ cao... do tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực quản trị của các DN VN nhìn chung còn thấp so với các đối thủ nước ngoài.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc đầu tư vào DN dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào đều tiềm ẩn những rủi ro. Lựa chọn DN để bỏ vốn đầu tư mà chỉ nhìn vào tiềm năng phát triển của ngành là phiến diện và mạo hiểm. Trên hết, điều cần đặc biệt lưu tâm là tầm nhìn của lãnh đạo DN cũng như kỳ vọng hợp lý và khả năng chịu rủi ro của chính các NĐT.
 
Theo TS Trịnh An Huy
DDDN

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên