TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Vẫn rối chuyện đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

Vẫn rối chuyện đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

Mục tiêu giảm đầu tư ngoài ngành xuống 15% không chỉ gặp lực cản từ các… doanh nghiệp nhà nước, mà rắc rối còn đến từ việc nội hàm của khái niệm “vốn nhà nước” vẫn chưa rõ ràng.

Chỉ được đầu tư ra ngoài ngành 15% vốn

Bộ Tài chính soạn thảo dự thảo nghị định về Quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo đó, tỷ lệ vốn đầu tư ra ngoài ngành của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) này phải giảm xuống còn 15% thay vì 30% như lâu nay.

Đầu tư ngoài ngành của các DNNN đã trở thành vấn đề khá nóng bỏng trong mấy năm gần đây. Để ngăn chặn tình trạng này, nghị định số 09/2009/NĐ-CP của Chính phủ đã khống chế mức đầu tư ra ngoài ngành của DNNN ở mức 30% tổng số vốn. Tuy nhiên, Nghị định này được cho là hết hiệu lực cùng lúc với luật DNNN năm 2003 (từ 1.7.2010, do nghị định này ra đời căn cứ vào luật DNNN năm 2003). Vì vậy, có thể hiểu, hiện tại không có bất kỳ giới hạn nào cho việc đầu tư ra ngoài ngành đối với các DNNN. Khoảng trống này đã được cảnh báo từ khi DNNN chuyển sang hoạt động theo Luật Doan hnghiệp 2005, nhưng đến nay vẫn chưa được lấp đầy.

Vốn của nhiều doanh nghiệp nhà nước đang "mắc cạn" vì thị trường chứng khoán xuống quá thấp và thiếu tính thanh khoản.

Để sớm đạt tỷ lệ rút vốn đầu tư ra ngoài ngành xuống còn 15% như dự thảo nghị định này dự kiến, Chính phủ và bộ Tài chính đang hối thúc các DNNN giảm 50% vốn đầu tư ngoài ngành hiện tại, nhất là đối với lĩnh vực đầu tư là ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhưng phải đảm bảo sự an toàn tài chính cho doanh nghiệp và “không làm thất thoát vốn nhà nước”.

Theo bà Phạm Nguyên Hạnh, phó tổng giám đốc tập đoàn Dệt may Việt Nam, quy định này là đúng nhưng trong bối cảnh hiện nay là không chưa phù hợp vì thị trường chứng khoán đang xuống rất thấp, không thể thoái vốn mà “không thất thoát vốn nhà nước được”. Do vậy, theo bà Hạnh, việc thoái vốn cần thêm thời gian và nên có lộ trình cụ thể.

Trong các văn bản hối thúc thoái vốn, bộ Tài chính có mở lối cho các DNNN là: trong điều kiện không thể thoái vốn thì phải chuyển phần đầu tư trái ngành này về cho Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Tuy nhiên, có nhiều tập đoàn đang cự nự vì… phần đầu tư này đang sinh lãi rất tốt.

Vốn nào là vốn nhà nước?

TS Đoàn Xuân Hoà - phó vụ trưởng vụ Kinh tế (Văn phòng Chính phủ) cho biết: hiện các DNNN đang nắm giữ khối tài sản quốc gia rất lớn: 70% tổng tài sản cố định, 20% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư của Nhà nước, 60% tín dụng NH và 70% nguồn vốn ODA... Dù tổng kết rằng DNNN “ôm” tới hơn 50% vốn đầu tư của Nhà nước nhưng đến nay, nội hàm của loại “vốn” này là gì vẫn chưa rõ ràng. Khái niệm “vốn nhà nước” đang có trong các văn bản luật và dưới luật có sự khác nhau.

“Chúng tôi rất băn khoăn, vốn vay của ngân hàng phát triển; vốn vay của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh; tài sản của các doanh nghiệp như đất… có phải là vốn nhà nước hay không", bà Hạnh bộc bạnh.

Với cơ chế và phương thức đầu tư vốn của công ty mẹ như hiện nay thì việc đầu tư vốn của công ty mẹ vào các công ty con cũng được coi là vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Bộ Tài chính cho rằng như vậy là không hợp lý vì vốn đầu tư của công ty mẹ vào các công ty con có thể là vốn vay, vốn huy động của công ty mẹ.

Ngoài ra, theo đánh giá của bộ Tài chính, việc quản lý vốn nhà nước đầu tư kinh doanh tại doanh nghiệp hiện vẫn còn nhiều bất cập. Chẳng hạn, về cơ chế đầu tư vốn, theo Nghị định số 132/2005/NĐ-CP thì Nhà nước là chủ sở hữu đối với công ty nhà nước. Chủ sở hữu có quyền quyết định đầu tư vốn vào công ty nhà nước thông qua các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập và các doanh nghiệp khác hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Còn điều 68, luật Đầu tư lại qui định việc đầu tư vốn từ ngân sách vào tổ chức kinh tế thực hiện thông qua Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).

Trên thực tế, chưa có cơ chế đầu tư thống nhất thông qua SCIC như quy định của Luật Đầu tư. Về mô hình quản lý, theo quy định hiện hành, nhà nước đầu tư vốn và giao nhiệm vụ quản lý vốn đầu tư tại doanh nghiệp thông qua đại diện chủ sở hữu vốn và phân cấp cho các bộ khác nhau. Do vậy, không rõ cơ quan nào là đại diện chủ sở hữu chính đối với DNNN. Và đương nhiên, trách nhiệm cũng khó phân biệt rõ ràng.

Ba khái niệm “vốn nhà nước” khác nhau

“Vốn nhà nước là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn đầu tư khác của nhà nước”.(Theo khoản 10, điều 3, luật Đầu tư)

“Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do nhà nước quản lý”. (Theo khoản 1, điều 4, luật Đấu thầu)

“Vốn do Nhà nước đầu tư tại công ty nhà nước là vốn cấp trực tiếp trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho công ty nhà nước khi thành lập, trong quá trình hoạt động kinh doanh; vốn nhà nước được tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; giá trị các khoản viện trợ, quà biếu, quà tặng; tài sản vô chủ, tài sản dôi thừa khi kiểm kê công ty nhà nước được hạch toán tăng vốn nhà nước tại công ty nhà nước; vốn bổ sung từ lợi nhuận sau thuế; giá trị quyền sử dụng đất và các khoản khác được tính vào vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.”(Theo khoản 3, điều 2, Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ban hành kèm theo Nghị định số 09/2009/NĐ-CP của Chính phủ).












Theo Hà Minh

SGTT

duclm