Trái phiếu là một kênh huy động vốn không thể bỏ qua của
doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp lớn, có tên tuổi. Tuy nhiên, thời gian
qua, trái phiếu nhiều doanh nghiệp lớn, cả nhà nước và tư nhân lại khá ế ẩm.
Nguyên nhân là vì đâu?
Công ty CP Quốc Cường Gia Lai vừa mới công bố kết quả tổng hợp
chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu QCG. Theo đó, trong số 195 tỷ đồng trái
phiếu chuyển đổi do Công ty Quốc Cường Gia Lai phát hành, chỉ có 30% được các
nhà đầu tư đồng ý chuyển thành cổ phiếu với giá chuyển đổi là 10.524 đồng. Tổng
giá trị trái phiếu đã chuyển đổi là 58,5 tỷ dồng, sang cổ phiếu phổ thông, mệnh
giá 10.000 đồng với giá 10.524 đồng.
Việc tỷ lệ trái phiếu chuyển đổi thành công chỉ đạt 30% là một
con số khá thấp, khiến Quốc Cường Gia Lai khó vẫn hoàn khó trong việc huy động
nguồn vốn từ trái phiếu.
Trước đó, cũng đầu tháng 7, Tập đoàn Công nghiệp Than -
Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) kết thúc đợt phát hành trái phiếu đầu tiên
trong kế hoạch phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu năm 2012.
Tuy nhiên, tỷ lệ trái phiếu bán thành công chỉ đạt 500 tỷ đồng
trái phiếu, chiếm chưa đầy 17% lượng chào bán. Lãi suất chốt ở mức 14,5% trả
cho năm đầu tiên.
Có 4 đơn vị tham gia mua đợt này bao gồm Ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam (Vietinbank - CTG), Công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương
(Vietinbank Securities), Công ty CP Bảo hiểm Petrolimex và Công ty TNHH Bảo hiểm
nhân thọ AIA Việt Nam, trong đó Vietinbank tham gia mua với số lượng lớn nhất,
dù con số này chưa được tiết lộ.
Việc tỷ lệ trái phiếu bán thành công của Vinacomin chưa đầy
17% cũng là một con số khá thấp, và đáng chú ý hơn những đơn vị mua trái phiếu
của Vinacomin hầu hết là doanh nghiệp nhà nước. Vietinbank sở dĩ mua nhiều nhất
bởi đây là đơn vị tư vấn phát hành, đồng thời là đại lý phát hành trái phiếu
cho Vinacomin lần này.
Vậy vì sao thời gian qua, trái phiếu nhiều doanh nghiệp lớn,
cả nhà nước và tư nhân lại ế ẩm vậy?
Ở những thời điểm khó khăn chung như hiện nay, các DN đều rất
cần tiền mặt, nhất là DN bất động sản. Việc phần lớn NĐT giữ trái phiếu của Quốc
Cường Gia Lai đòi rút tiền gốc là một điều gây khó cho DN.
Ở những thời điểm khó khăn chung như hiện nay, các DN đều rất
cần tiền mặt, nhất là DN bất động sản. Việc phần lớn NĐT giữ trái phiếu của Quốc
Cường Gia Lai đòi rút tiền gốc là một điều gây khó cho DN.
Về trường hợp trái phiếu chuyển đổi của Quốc Cường Gia Lai,
theo Tiến sĩ Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Ngân hàng
TP HCM, trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu mà người nắm giữ có khả năng
chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành. Khi
được phát hành lần đầu, các trái phiếu này đóng vai trò như một loại trái phiếu
doanh nghiệp thông thường, có mức lãi suất thấp hơn một chút, thâm chí lãi suất
0%. Vì các trái phiếu chuyển đổi thường có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
và người nắm giữ cũng sẽ hưởng lợi từ việc tăng giá của cổ phiếu được chuyển đổi
nên các công ty thường đưa ra tỷ lệ lãi suất thấp đối với các trái phiếu chuyển
đổi. Nếu như công ty hoạt động kém hiệu quả thì trái phiếu sẽ không có khả năng
chuyển đổi, do đó các nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được khoản lợi tức nhỏ bé mà trái
phiếu này mang lại.
Có một số loại hình trái phiếu chuyển đổi, trong đó loại
thông thường là người mua trái phiếu (hay còn gọi là trái chủ) có quyền chuyển
đổi thành cổ phiếu hoặc nhận lại tiền vào thời điểm đáo hạn. Tuy nhiên, có loại
trái phiếu chuyển đổi đương nhiên (là loại mà trong bản cáo bạch không nhắc gì
đến quyền của trái chủ trong việc rút tiền gốc khi trái phiếu đáo hạn), thì
trái chủ phải đồng ý chuyển đổi thành cổ phiếu.
Trường hợp trái phiếu chuyển đổi của Quốc Cường Gia Lai là
trường hợp 1, khi đáo hạn trái phiếu, người sở hữu trái phiếu có quyền chọn giữa
chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc nhận lại tiền mặt. Năm 2010, Công ty Quốc Cường
Gia Lai phát hành trái phiếu chuyển đổi theo phương thức riêng lẻ cho các nhà đầu
tư với giá trị 195 tỷ đồng, lãi suất 0% với kỳ hạn 2 năm. Ngày phát hành là
9/12/2010. Số tiền huy động được dùng để bổ sung vốn lưu động, hoàn thành các dự
án bất động sản, phát triển thêm mảng trồng cao su... Và giờ đã sắp đến thời điểm
đáo hạn nên công ty lấy ý kiến trái chủ về việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ
phiếu.
Thông thường, thời điểm đáo hạn, nếu giá cổ phiếu của doanh
nghiệp giảm mạnh, công ty làm ăn thua lỗ thì những nhà đầu tư đang giữ trái phiếu
không dại gì đồng ý chuyển đổi thành cổ phiếu, bởi thiệt hại rất nhiều. Chỉ khi
giá cổ phiếu tăng, nhà đầu tư được hưởng lợi thì họ mới đồng ý chuyển đổi sang
cổ phiếu. Trong khi đó, cổ phiếu QCG của Quốc Cường Gia Lai liên tục sụt giảm,
chỉ trong vòng 1 tháng qua, giá QCG đã giảm hơn 23%. Kết thúc năm 2011, công ty
thua lỗ gần 40 tỷ đồng và tình trạng lỗ này còn kéo dài sang quý 1/2012 với mức
lợi nhuận cả quý là âm 3,84 tỷ đồng. Đó là nguyên nhân khiến phần lớn nhà đầu
tư muốn rút tiền mặt vào ngày đáo hạn trái phiếu. Đây là một điều gây khó cho
doanh nghiệp phát hành trái phiếu mà ở đây là Công ty CP Quốc Cường Gia Lai, bởi
ở những thời điểm khó khăn chung như hiện nay, các doanh nghiệp bất động sản đều
rất cần tiền mặt.
Về việc trái phiếu của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam ế
ẩm đến từ nhiều nguyên nhân. Trước khi phát hành, nhiều chuyên gia tài chính đã
cho rằng đợt phát hành khó có thể đạt kết quả cao. Theo chuyên gia kinh tế Bùi
Kiến Thành, nguyên nhân do các nhà đầu tư đang rất lo ngại về sức khỏe tài
chính của Vinacomin thời gian gần đây, việc bị hạ xếp hạng tín nhiệm quốc tế,
lãi suất trái phiếu không hấp dẫn, bài học từ đợt phát hành trái phiếu của
Vinashin, cộng với tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế.
Liên tiếp trong quý II/2012, hai hãng xếp hạng tín nhiệm quốc
tế Moodys và Standard &Poor’s đều hạ triển vọng tín nhiệm của Vinacomin từ
mức “ổn định” xuống “tiêu cực”. Cả hai hãng này đều đánh giá tiêu cực về tỷ suất
lợi nhuận của Vinacomin, cùng với tình trạng phụ thuộc nhiều vào vay nợ trong
hoạt động kinh doanh của tập đoàn.
Moody's cảnh báo sẽ chính thức hạ xếp hạng tín nhiệm của
Vinacomin nếu “xuất hiện bằng chứng về việc Vinacomin gặp khó khăn trong việc
huy động vốn cần thiết để duy trì và phát triển các kế hoạch kinh doanh đang có”,
còn Standard &Poor’s cũng cảnh báo sẽ hạ tín nhiệm nếu tình hình thanh khoản
của tập đoàn xấu đi.
Thực ra đây không phải lần đầu Vinacomin gặp khó trong việc
huy động vốn qua kênh trái phiếu. Từ năm 2010, Vinacomin đã chào bán trái phiếu
ra thị trường quốc tế, song đợt chào bán gần như thất bại hoàn toàn.
Bên cạnh đó, lãi suất trái phiếu chỉ ở mức 14,5%/năm cũng
không phải là con số hấp dẫn với các nhà đầu tư. Mức này chỉ hấp dẫn khi yếu tố
rủi ro thấp, còn trong trường hợp nhà đầu tư đang lo ngại nhiều rủi ro từ hoạt
động của doanh nghiệp thì mức lãi suất phải cao hơn mới lôi kéo được họ.
Một điều nữa khiến các nhà đầu tư e ngại khi quyết định mua
trái phiếu của Vinacomin là bài học từ việc mua trái phiếu của “con cưng” nhà
nước là Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) trước đây. Vinashin
là đơn vị tiên phong của hệ thống tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện
phong trào huy động trái phiếu doanh nghiệp. Trong thời gian 3 năm (2007 -
2009), Vinashin đã phát hành tổng giá trị trái phiếu lên đến 10.296 tỷ đồng. Kể
từ 2012, Vinashin bắt đầu phải hoàn trả vốn cho các nhà đầu tư đã mua trái phiếu
của doanh nghiệp này. Tính riêng trong năm nay, khoản vốn bắt buộc phải trả đã
là 1.500 tỷ đồng. Nhưng với tình cảnh hiện thời của Vinashin, việc trả nợ có
nguy cơ trở thành vỡ nợ. Làm ăn thua lỗ, nợ chồng lên nợ, tiền lương công nhân
còn bị treo thì Vinashin đào đâu ra 1.500 tỷ đồng trả nợ trái phiếu doanh nghiệp
trong năm 2012. Khi đổ tiền ra mua trái phiếu của Vinashin, các nhà đầu tư hy vọng
làm ăn phát đạt, vậy mà giờ đến kỳ thu hồi vốn (chỉ cần nợ gốc, chưa tính lãi)
chẳng khác gì bài toán vô nghiệm. Đến bao giờ và làm thế nào để Vinashin hoàn
trả trái phiếu doanh nghiệp lên đến 10.296 tỷ đồng. Hầu hết các nhà đầu tư (chủ
yếu là tổ chức kinh tế nhà nước) mua trái phiếu của Vinashin cùng chung số phận
trở thành nạn nhân. Khoản vốn huy động từ trái phiếu doanh nghiệp đã biến
Vinashin thành con nợ lớn và nợ khó đòi.
Theo Đông Nhiên
Báo Đất Việt