TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Dự thảo Luật đất đai sửa đổi: Rất nhiều nội dung được chỉnh lý, bổ sung

06-11-2013 - 13:25 PM | Thời sự

Dự thảo Luật đất đai sửa đổi: Rất nhiều nội dung được chỉnh lý, bổ sung

Khoản 1 điều 76 bổ sung quy định bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.

Trong phiên họp Quốc hội sáng ngày 06/11/2013, Chủ nhiệm UBKT Quốc hội Nguyễn Văn Giàu đã trình bày báo cáo tiếp thu chỉnh lý giải trình luật đất đai sửa đổi. Theo đó, nhiều ý kiến đóng góp của Đại biểu Quốc hội đã được bổ sung vào Dự thảo Luật.

Chúng tôi xin nêu một số vấn đề nổi bật đã được bổ sung chỉnh lý.

Quy định về quyền sử dụng đất

Trước ý kiến cho rằng quy định rõ quyền sử dụng đất của người dân trong vùng quy hoạch phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, UBTVQH tiếp thu và chỉnh lý khoản 2 Điều 49 theo hướng quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Khi đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch, không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm. Nếu ngưởi sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Có ý kiến đề nghị làm rõ căn cứ và điều kiện giao đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, UBTVQH đã chỉnh lý theo hướng định rõ việc giao đất phải căn cứ vào nhu cầu sử dụng hàng năm ở các huyện và nhu cầu sử dụng đất trong DA đầu tư hoặc đơn xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Ngoài ra, để được giao đất, cho thuê đất, cho phép sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân phải có DA do Quốc hội quyết định hoặc Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc được HĐND cấp tỉnh quyết định.

Đối với các DA có sử dụng đất trồng lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng … vào mục đích khác không thuộc trường hợp được QH, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư thì ngoài các điều kiện trên phải có văn bản chấp thuận của đối với trường hợp chuyển diện tích sử dụng từ 10ha đất trồng lúa trở lên, từ 20 ha đất trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trở lên hoặc NQ của HĐND cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất dưới 10ha dất trồng lúa, dưới 20ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.

Đối với các DA sử dụng đất ở biên giới, hải đảo phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

UBTVQH cũng đã bổ sung tại Điều 54 về quy định đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người khác sử dụng chỉ được thực hiện sau khi có quyết định thu hồi đất của CQNN có thẩm quyền và được thực hiện sau việc bồi thường tái định cư .

Thẩm quyền của UBND cấp tỉnh đối với việc cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được bổ sung tại khoản 1 Điều 59.

Thu hồi đất

Nhiều Đại biểu Quốc hội cho rằng cần Quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất để phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế xã hội thành 1 điều vì rất khó tách bạch những mục đích này, bỏ việc giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Trước đóng góp này, UBTVQH đã bổ sung quy định tại điều 62 về các trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế xã hội

Việc xem xét lại tính khả thi đối với việc thu hồi đất do vi phạm trong trường hợp sử dựng đất không đúng mục đích tại điểm a, khoản 1 Điều 64 đã được chỉnh lý theo hướng NN thu hồi đất đối với các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận và đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích và tiếp tục vi phạm.

Khoản 3 Điều 66 được chỉnh lý theo hướng trường hợp thu hồi đất có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định.

Có ý kiến đề nghị Quy định cụ thể địa điểm niêm yết công khai phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, Dự thảo luật sửa đổi quy định địa điểm niêm yết công khai phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi tại điểm a khoản 2 điều 69.

Điểm b khoản 4 điều 71 bổ sung, trước khi có quyết định cưỡng chế, ban cưỡng chế vận động cần đối thoại công khai với người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Nếu cá nhân tổ chức bị cưỡng chế chấp hành thì lập biên bản ghi nhận, việc bàn giao chậm nhất sau đó 30 ngày.

Chỉnh lý việc trưng dụng đất trong luật đất đai theo hướng cụ thể hơn về quyền, thời gian, hiệu lực, hình thức của các trường hợp trưng dụng đất đai tại điều 72.

Bồi thường khi NN thu hồi đất 

Có ý kiến đề nghị việc bồi thường khi NN thu hồi đất phải đảm bảo người sử dụng đất được bồi thường theo MĐ sử dụng đất hợp pháp. Người có đất khi bị NN thu hồi cần được đào tao nghề, tạo việc làm tổ chức lại sản xuất đảm bảo đời sống. UBTVQH đã bổ sung quy định về bồi thường tại mục 2 chương VI theo hướng phân biệt rõ việc bồi thường hỗ trợ tái định cư.

Theo đó bồi thường là bù đắp thiệt hại cho người có đất do việc thu hồi đất gây ra như thiếu đất SX, nhà ở, SX bị gián đoạn, lợi nhuận bị giảm sút, cuộc sống sinh hoạt bị ảnh hưởng. Việc bồi thường có thể bằng đất, bằng tiền. Đối với hỗ trợ, không phải là để bù đắp phần bồi thường chưa thỏa đáng mà xác định đây là NN tạo điều kiện cho người có đất thu hồi có cuộc sống tốt hơn. Việc hỗ trợ thể hiện ở việc bố trí chỗ ở cho người bị thu hồi. Nếu tiền bồi thường không đủ mua suất tái định cư tối thiểu thì được NN hỗ trợ đủ để mua.

Khoản 1 điều 76 bổ sung quy định bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.

UBTVQH đã chỉnh lý khoản 1 và 2 Điều 79 quy định việc bồi thường bằng tiền khi NN thu hồi đất ở đối với trường hợp phải di chuyển chỗ ở mà không còn chỗ ở nào khác. Khi NN thu hồi đất mà người dân không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở nhà ở. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở, nhà ở thì bồi thường bằng tiền. Trường hợp không đủ điều kiện bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được NN bán hoặc cho thuê nhà hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

Sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư tại nước ngoài

Bổ sung điểm d khoản 1 điều 169 theo hướng người VN định cư ở nước ngoài thuộc diện sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật được nhận chuyển nhượng, quyền sử dụng đất ở thông qua mua, thuê mua, nhận thừa kế, cho, tặng nhà ở gắn liền quyền sử dụng đất ở, hoặc được nhận quyền sử dụng đất ở trong các DA phát triển nhà ở.

Hải Minh

trangntm

Theo Trí thức trẻ