TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

5 năm WTO: Đa phần các doanh nghiệp đều kinh doanh có hiệu quả

5 năm WTO: Đa phần các doanh nghiệp đều kinh doanh có hiệu quả

Theo các chuyên gia, sau 5 năm gia nhập WTO dù vấp phải khá nhiều rào cản nhưng DN Việt Nam đa phần đều hoạt động tốt, các sản phẩm trong nước chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trên thị trường nội địa.

Trong hội thảo quốc gia "Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO" diễn ra vào sáng ngày 9/3/2012, một số chuyên gia kinh tế đã mang tới hội thảo những tham luận đánh giá về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước trong suốt quãng thời gian qua.

TS Vũ Nhữ Thăng, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính – Bộ Tài chính: Đa phần các doanh nghiệp đều hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Cùng với xu hướng chung của toàn nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế của tất cả các khu vực theo thành phần sở hữu đều giảm dần. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các khu vực khác nhau đáng kể, theo đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có mức tăng trưởng cao nhất, khu vực nhà nước có mức tăng trưởng thấp nhất. 

Cơ cấu kinh tế theo thành phần sở hữu cũng có sự thay đổi. Tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế Nhà nước giảm xuống 33,2% năm 2009 so với 35,9% năm 2007, và tăng lên 36,99% năm 2010. Con số này của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tiếp tục tăng từ 46,1% năm 2007 lên 47,5% năm 2009, 49,42% năm 2010.

Xem xét tỷ trọng các doanh nghiệp lãi, lỗ trong các ngành, so với tổng số doanh nghiệp trong toàn ngành có thể thấy đa phần các doanh nghiệp đều hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Số doanh nghiệp lãi cao nhất, chiếm hơn 90% số doanh nghiệp toàn ngành là ngành tài chính, tín dụng, thủy sản và nông, lâm nghiệp. 

Các doanh nghiệp đều duy trì được hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, tuy nhiên, tỷ trọng các doanh nghiệp lãi đến năm 2009 cho đến hiện tại cũng có chiều hướng giảm nhiều, một phần do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008

Giáo sư TSKH. Nguyễn Mại, nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương: Sản phẩm của Việt Nam đã chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trên thị trường nội địa

Gia nhập WTO làm tăng áp lực buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đọ sức với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài trên thị trường trong nước. Việc mở cửa khâu phân phối hàng hóa từ đầu năm 2009 đã làm  nhiều người lo ngại các công ty nước ngoài với tiềm lực mạnh và có kinh nghiệm sẽ chiếm lĩnh khâu phân phối hàng hóa, hàng nước ngoài sẽ tràn ngập thị trường. 

Thực tế đã không diễn ra như vậy. Tỷ trọng hàng may mặc, dày dép, đồ điện tử, vật liệu xây dựng… của Việt Nam đã gia tăng và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước nhờ các doanh nghiệp cải tiến mẫu mã, chất lượng hàng hóa, giá cả cạnh tranh; người tiêu dùng được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng thanh toán của họ.

Thị trường bán lẻ nước ta tuy quy mô không lớn, năm 2008 khoảng 970 nghìn tỉ đồng, tương đương 55 tỉ USD, nhưng có tốc độ phát triển nhanh, nên Việt Nam liên tục được xếp thứ hạng cao về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ (GRDI). 

Tuy nhiên, nước ta chưa có nhiều thương hiệu đạt được trình độ quốc tế. Chỉ có mấy mặt hàng nông sản xuất khẩu có vị thế dẫn đầu thế giới là hồ tiêu (số 1), gạo và cà phê (số 2); hàng may mặc có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, năm 2011 là 13,5 tỷ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng chủ yếu là gia công, phải nhập khẩu 8,5 tỷ USD nguyên, phụ liệu. 

Những nhược điểm cố hữu trong sản xuất công nghiệp dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp như không hội đủ 4 yếu tố: máy móc và nguyên vật liệu phần lớn phải nhập khẩu; chưa có thương hiệu, chưa sáng tạo được mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm nên phải gia công, lao động phổ thông, tiền lương thấp; do vậy giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp và hàng xuất khẩu khá thấp.

TS. Lê Kim Sa, Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Các doanh nghiệp Việt Nam cũng vấp phải khá nhiều rào cản trong 5 năm qua

Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, lạm phát trong nước liên tục ở mức cao, tạo áp lực cho hoạt động kinh doanh, tăng chi phí đầu vào, ảnh hưởng tới tỷ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, lạm phát cao còn tạo áp lực đối với tỷ giá hối đoái, gây sức ép với các hoạt động xuất khẩu bởi phần lớn các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thời gian qua đều phụ thuộc khá nhiều vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu.

Sự thay đổi liên tục của các chính sách tiền tệ, tỷ giá tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp. Từ năm 2007 đến nay, tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đã được điều chỉnh khoảng 10 lần cùng với sự thay đổi của biên độ dao động tỷ giá. Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, biên độ dao động đã được điều chỉnh theo hướng nới rộng, tác động mạnh đến hoạt động tài chính của các doanh nghiệp.

Sau 5 năm gia nhập WTO, các rào cản chống bán phá giá, chống trợ cấp… không còn căng thẳng như giai đoạn đầu nhưng các loại hàng rào mềm như các biện pháp tiêu chuẩn kỹ thuật lại tăng lên. Các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam liên tục đưa ra các bộ tiêu chuẩn mới, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.

Bên cạnh đó, cũng liên quan tới các quy định của thị trường nhập khẩu, các quy định về thủ tục hải quan tại các nước nhập khẩu cho dù khác nhau, nhưng nhìn chung quốc gia nào cũng có khuynh hướng kiểm soát chặt chẽ đối với hàng nhập khẩu. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải hiểu rõ và hoàn thành các thủ tục hải quan cần thiết, đặc biệt là phải các giấy tờ đáp ứng các giấy tờ liên quan tới nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa.

Phương Dung
(Ghi)

dungdp

Theo Trí thức trẻ