TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Thứ trưởng Nguyễn Công Nghiệp:

6 mục tiêu Chiến lược tài chính từ nay đến năm 2020

6 mục tiêu Chiến lược tài chính từ nay đến năm 2020

Theo thứ trưởng Nguyễn Công Nghiệp, duy trì tổng đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, giai đoạn 2011-2015 khoảng 41,5% GDP, giai đoạn 2016-2020 khoảng 38-39% GDP.

Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, nhất là nguồn vốn nhà nước

Theo GS.TS Nguyễn Công Nghiệp, quan điểm phát triển trong Chiến lược tài chính giai đoạn 2011-2020, tài chính là huyết mạch của nền kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc định hướng, hỗ trợ và ổn định kinh tế - xã hội, hướng tới tăng trưởng nhanh và bền vững đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội.

Theo đó, tài chính phải thực hiện hiệu quả chức năng huy động và phân phối các nguồn lực sản xuất trong xã hội để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng. Tài chính nhà nước phải đóng vai trò trọng yếu để điều chỉnh việc huy động nguồn lực, duy trì hoặc mở rộng hoạt động trong các giai đoạn phát triển kinh tế.

Thứ hai, phát triển nền tài chính quốc gia theo hướng toàn diện, hiệu quả, hợp lý và công bằng. Tiềm lực tài chính phải được giải phóng trên cả 3 cấp độ: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư. Việc khai thác và thu hút các nguồn ngoại lực cũng rất quan trọng nhằm bổ sung nguồn vốn cho phát triển cũng như gắn liền với việc chuyển giao khoa học công nghệ.

Chiến lược tài chính 2011 – 2020 phải góp phần từng bước nâng cao được chất lượng và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, nhất là nguồn vốn nhà nước, phải xem đây là chìa khoá quan trọng trong việc nâng cao năng suất sản xuất và sức cạnh tranh của toàn nền kinh tế.

Chính sách động viên và phân phối cần phải phù hợp, đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa 3 chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp và dân cư. Tài chính nhà nước vững mạnh khi tài chính doanh nghiệp phát triển và tài chính dân cư dồi dào. Kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách tài chính với các mục tiêu, chính sách xã hội; thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách tài chính, phù hợp với trình độ và điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Thứ ba, quản lý tài chính bằng pháp luật, đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, kỷ cương, kỷ luật tài chính và hiện đại hoá nền tài chính quốc gia.

6 mục tiêu chiến lược đến năm 2020

Về mục tiêu tổng quát, đến năm 2020, cần xây dựng được hệ thống tài chính hiện đại, hợp lý về cơ cấu; huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính trong xã hội hiệu quả, công bằng và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài chính, ổn định tài chính - tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, hỗ trợ tốt nhất cho việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Để đạt được mục tiêu tổng quát này, các mục tiêu cụ thể của Chiến lược tài chính, theo thứ trưởng thường trực Nguyễn Công Nghiệp:

Thứ nhất, xử lý tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư; tiếp tục có chính sách khuyến khích tăng tích luỹ cho đầu tư phát triển, hướng dẫn tiêu dùng; thu hút hợp lý các nguồn lực xã hội để tập trung đầu tư cho hạ tầng kinh tế - xã hội, giải quyết các điểm nghẽn của phát triển, tạo tiền đề để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, duy trì tổng đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, giai đoạn 2011-2015 khoảng 41,5% GDP, giai đoạn 2016-2020 khoảng 38-39% GDP.

Tập trung vốn đầu tư nhà nước phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công quan trọng, một số ngành sản xuất thiết yếu, then chốt, đóng vai trò chủ đạo mà lĩnh vực tư nhân không thể hoặc chưa thể đảm đương được, từng bước giảm tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội.

Thứ hai, tỷ lệ động viên từ nền kinh tế vào NSNN ở mức hợp lý; cân đối ngân sách tích cực, giảm dần tỷ lệ bội chi NSNN.

Thứ ba, đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia; duy trì dư nợ chính phủ và nợ quốc gia trong giới hạn an toàn; tăng cường dự trữ nhà nước đáp ứng kịp thời các nhu cầu đột xuất của nền kinh tế.

Thứ tư, phát triển đồng bộ các loại thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính và dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho việc huy động và định hướng các nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính công, đặc biệt nguồn vốn từ NSNN; tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN; tăng cường đầu tư phát triển con người, cải cách lĩnh vực giáo dục, y tế; cải cách tiền lương; từng bước xây dựng và củng cố hệ thống an sinh xã hội.

Thứ sáu, cải cách cơ bản thể chế tài chính theo hướng bền vững, đồng bộ, hiện đại, theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo động lực đủ mạnh cho các chủ thể tham gia lao động, thực hiện tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng lành mạnh; khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh; thiết lập môi trường kinh tế - xã hội an toàn, ổn định với hệ thống an sinh xã hội bền vững; đồng thời đảm bảo vai trò chủ đạo của Nhà nước trong điều tiết, định hướng nền kinh tế.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1990 – 2010 đạt 7,38%GDP - mức cao của khu vực và thế giới; GDP bình quân đầu người tăng nhanh từ mức 123 USD/người năm 1991 lên mức 1200 USD năm 2010; về mức cơ bản nước ta đã bước vào hàng ngũ những nước thu nhập trung bình. Thể chế kinh tế thị trường từng bước được hình thành và phát triển theo hướng ngày càng gắn kết với thị trường thế giới, tạo điều kiện thu hút và sử dụng hiệu quả các dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.



K.Huyền

Ghi theo Bộ Tài Chính

tuyetminh

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM