TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Bài toán giá nông sản

Bài toán giá nông sản

Nhiều nông dân đang lâm vào cảnh khó khăn do giá các loại nông sản như gạo, cà phê... sụt giảm mạnh.

Ba trong số mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là gạo, cà phê và cao su cách đây hai tháng đã có những dự báo về sản lượng và thị trường khá chi tiết. Nhưng những dự báo đó hiện đã không còn giúp gì được cho thị trường.

 

Nhìn thấy thừa cung, giảm giá

 

Chuyện nông sản trong tháng này đang đồng loạt rớt giá không phải là vấn đề mang tính đột ngột. Thực tế, ở Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn luôn có các tổ dự đoán, nhận định về xu hướng thị trường và khả năng sản xuất, nhằm giúp những người đứng đầu các cơ quan quản lý trực tiếp đưa ra những quyết sách uyển chuyển với thị trường.

 

Như giá cao su, theo dự báo của Bộ Công Thương, ở thời điểm trung tuần tháng 8, vẫn là những diễn biến lạc quan khi tăng thêm 182 đô la Mỹ/tấn so với giá xuất khẩu đầu tháng 7, đạt mức trung bình 3.012 đô la Mỹ/tấn.

 

Nhưng về diễn biến thị trường, tại cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), sản lượng cao su giao dịch tuy vẫn ở mức 300 tấn/ngày song giá đã giảm xuống 20.500 nhân dân tệ/tấn.

 

Các đối  tác nhập khẩu Trung Quốc dựa vào giá cao su trên thị trường châu Á đang giảm để hạ thấp giá cao su của Việt Nam tại cửa khẩu này. Ngay ở thời điểm đó, khoảng 30% số doanh nghiệp (theo ước đoán của Bộ Công Thương) đã tạm ngừng giao dịch để tránh bị ép giá.

 

Những phân tích trên cho thấy, xu hướng giảm giá cao su những tháng tiếp theo là điều dự đoán được, nhất là trong điều kiện nhu cầu sản xuất lốp xe ô tô và các mặt hàng từ cao su trên thế giới đang giảm dần vì khủng hoảng tài chính tác động đến sức mua.

 

Tuy nhiên, các chuyên gia Bộ Công Thương lại dự đoán rằng giá cao su tự nhiên sẽ không giảm quá mạnh do thời gian qua giá mặt hàng này quá cao khiến dự trữ cao su của các nước tiêu thụ lớn đã giảm mạnh. Và việc giá giảm sẽ đẩy sức mua của họ nhằm gia tăng lượng dự trữ và vô tình sẽ là yếu tố nâng đỡ giá tự nhiên.

 

Nhưng thực tế, giá cao su đã giảm mạnh trong tháng 9 và đầu tháng 10, với tốc độ giảm giá trên 50%.

 

Mặt hàng cà phê cũng dễ thấy chuyện thừa cung. Bởi cuối tháng 10, nước ta sẽ bước vào vụ mùa mới, dự đoán là vụ mùa bội thu với lượng cà phê quy hoạch ước đạt 21,5 triệu bao, tăng 23% so với niên vụ 2007-2008 (Bộ Công Thương dẫn nguồn qua số liệu của Tổ chức Cà phê quốc tế - ICO).

 

Cũng đã có dự báo trong quí 4 lượng cà phê xuất khẩu sẽ tăng lên (mức dự kiến có thể đạt 1 triệu tấn) và kim ngạch dự báo đạt hơn 2,1 tỉ đô la Mỹ. Song, ngay tại thời điểm dự báo đó, giá cà phê robusta xuất khẩu của Việt Nam đã giảm, ví dụ như giá cà phê robusta loại II xuất khẩu đã giảm trung bình 70 đô la/tấn so với đầu tháng 8. Cộng với nguồn cung dự báo thừa do được mùa, xu hướng giảm giá là điều không thể cưỡng lại.

 

Hồi cuối tháng 9, Tổng cục thống kê đã bày tỏ sự lo ngại về lúa hàng hóa vùng ĐBSCL đang tồn đọng lớn, do sản lượng lúa tăng cao nên mặc dù các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo đã đẩy mạnh mua lúa cho nông dân thì những tháng cuối năm, sản lượng thu hoạch có thể đạt gần 9 triệu tấn, đưa tổng sản lượng cả nước ước đạt 38,6 triệu tấn, trong khi giá thế giới cũng đã sút giảm một nửa so với thời kỳ đỉnh điểm hồi tháng 4.

 

Tiếc rằng, tất cả các dự báo đó đã không chuyển hóa được thành những hành động uyển chuyển với thị trường và có được lối thoát tình thế cho người sản xuất và nông dân.

 

Lối ra nào?

 

Bên lề Quốc hội, đại biểu Nguyễn Lân Dũng (Daklak) bày tỏ sự lo âu cho người nông dân, khi vùng đất mà ông ứng cử là Daklak hiện đang có hai mặt hàng chủ lực rớt giá là cao su và cà phê. Ông nói rằng người nông dân chỉ lo sản xuất thôi, còn đầu ra nông sản và hàng hóa Nhà nước phải lo.

 

“Nếu thị trường tốt thì cả Nhà nước và nông dân cùng hưởng lợi. Còn khi thị trường rớt giá thì không thể để người nông dân gánh mọi thiệt hại”. Ông nói rằng, ở thời điểm này Nhà nước cần phải dùng nguồn tài chính để hỗ trợ nông dân thông qua việc mua và dự trữ, chờ thời điểm rớt giá đi qua thì tung ra thị trường.

 

Quan điểm của ông Dũng cho rằng sự hỗ trợ này là cần thiết hơn các ngành sản xuất hay đối tượng khác vì nông dân hiện chiếm 73% dân số Việt Nam và xuất khẩu nước ta dựa vào nông sản là chính.

 

Ông Dũng e ngại nhất nếu Chính phủ không có những biện pháp hỗ trợ kịp thời và phổ biến, hướng dẫn thông tin cặn kẽ cho nông dân thì những khó khăn của thời điểm này có thể dẫn đến hiện tượng: “chặt - trồng” rồi lại “trồng - chặt” mà người nông dân thường làm mỗi khi có biến động về giá nông sản.

 

Nhưng ông Chu Tiến Quang, Trưởng Ban Phát triển chính sách nông thôn (Viện Nghiên cứu quản lý trung ương) lại cho rằng việc hỗ trợ của Nhà nước về mặt lý thuyết thì đúng nhưng thực tế thì quá khó. Bằng chứng là Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp của Nhà nước mua lúa gạo cho nông dân với mức giá đảm bảo người trồng lúa có lãi 40%. Nhưng chính sách đó thực tế không triển khai được.

 

“Muốn dự trữ phải có phương tiện và cách bảo quản, tức là cần nhiều giải pháp đồng bộ, chứ không phải hô hào là xong”, ông nói. Ông nhận xét thường thì chính phủ các nước (và Việt Nam có thể lấy kinh nghiệm này) sẽ hỗ trợ sau thu hoạch bằng cung cấp các công cụ tín dụng (lãi suất ưu đãi) để nền nông nghiệp quốc gia đó qua các đợt biến động giá.

 

Theo gợi ý của ông Quang, nông dân cần các quỹ bảo hiểm rủi ro do họ lập nên, quản lý và góp vốn để đối phó với những thách thức của thị trường. Hình thức tổ chức có thể là liên minh các hợp tác xã hoặc hiệp hội sản xuất nhưng phải thực sự do họ quản lý, vận hành chứ không phải là các tổ chức xã hội mang nặng tính hình thức. “Đó quả là một thách thức dài hạn đối với người sản xuất”, ông Quang nói.

 

Theo Ngọc Lan
Thời báo kinh tế Sài Gòn

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên