TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Chỉ nên cấp phép dự án giáo dục có vốn lớn

Chỉ nên cấp phép dự án giáo dục có vốn lớn

Chúng ta đã có một số hình thức liên kết đào tạo với các trường của quốc tế, như trao đổi sinh viên giữa các trường của Việt Nam và nước ngoài, nhưng số lượng rất nhỏ.

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục thanh thiếu niên, nhi đồng của Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, nếu nước ngoài liên kết bỏ tiền đầu tư vào đại học, thì vốn đối ứng của Việt Nam cũng phải rất lớn.

Theo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam vừa được Chính phủ phê duyệt, từ nay đến năm 2015, sẽ thành lập mới 158 trường đại học (đến năm 2020 cả nước sẽ có 573 trường). Quan điểm của ông về con số này?

Trước hết, tôi cho rằng, phải giải thích vì sao Việt Nam lại cần tới gần 600 trường cao đẳng, đại học vào năm 2020. Năm 2010, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có đoàn giám sát việc đầu tư và thành lập các trường cao đẳng và đại học trên toàn quốc. Lúc đó, cả nước đã có tới 400 trường đại học, cao đẳng, phần lớn trong đó được mở ra trong năm 2006 với một tốc độ rất nhanh. Đa số trường không thỏa mãn được các điều kiện tối thiểu của các trường đại học, mà giống như một lò luyện thi, thành lập theo kiểu chỉ với một tờ giấy phép, tuyển sinh xong mới đi thuê trường lớp.

Có nhiều trường không tuyển nổi giáo viên, hoặc đội ngũ giáo viên phần lớn là những người đã về hưu và giảng viên đi thuê. Triển vọng của các trường đại học như thế là không có. Điều đó khác hẳn với trường đại học của các nước, kể cả các trường đại học tư thục cũng có những nhà đầu tư bỏ những khoản tiền lớn vào cơ sở vật chất của trường. Theo tôi, cái chúng ta đang thiếu là những trường cao đẳng, dạy nghề tốt, trong khi quá thừa các trường đại học non yếu.

Thế nhưng, theo Quy hoạch, đến năm 2020, tổng vốn dành cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực cần 2.135 nghìn tỷ đồng. Ông nghĩ sao về con số khổng lồ này?

Tôi không biết nguồn vốn này bao gồm những gì, nhưng tôi rất sợ cách tính toán khi cứ cộng tất cả các thứ ra một con số khổng lồ, nhưng không chính xác. Mà không chính xác thì rất khó để bàn. Vì vậy, chính sách phải chỉ rõ, sắp tới chúng ta sẽ chi bao nhiêu, vào những việc gì, hiệu quả đến đâu. Về việc huy động nguồn vốn xã hội hóa cho giáo dục cũng không có nhiều hy vọng, vì thực tế con số này hiện không đáng kể. 

Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, bản quy hoạch đề cập việc liên kết đào tạo, thu hút đầu tư nước ngoài vào giáo dục. Việc này có góp phần thay đổi bộ mặt giáo dục, thưa ông?

Chúng ta đã có một số hình thức liên kết đào tạo với các trường của quốc tế, như trao đổi sinh viên giữa các trường của Việt Nam và nước ngoài, nhưng số lượng rất nhỏ. Cũng có một số trường nước ngoài sang Việt Nam phối hợp với đại học trong nước để mở chương trình đào tạo. Nhưng việc đóng góp của các trường nước ngoài gần như không có, chủ yếu là lấy từ nguồn lực của các trường Việt Nam. Trong đó, khá nhiều trường liên kết, đầu tư vào Việt Nam là những trường không có chất lượng. Tiền đầu tư hầu như không có, chất lượng cũng không thì nên xem lại, vì thực tế, không mấy trường đại học danh tiếng phải chấp nhận bỏ tiền đi ra nước khác đầu tư khi sinh viên tự tìm đến với họ đã rất đông.

Tại sao chúng ta không dồn lực để nâng cao chất lượng những trường trọng điểm, như Đại học Quốc gia, Đại học Nông nghiệp hay Đại học Khoa học tự nhiên… Chương trình mở rộng khuôn viên và quy mô đào tạo của đại học quốc gia Hà Nội đặt ra từ rất lâu, nhưng sau nhiều năm, mới đây, mới xây dựng được một phần nhỏ. Đại học Quốc gia TP.HCM cũng mới được triển khai xây dựng những bước đầu tiên, vốn rót vào hết sức nhỏ giọt dù quy hoạch rất lớn.

Nghĩa là, theo quan điểm của ông, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào giáo dục là không khả thi?

Từ thực tế hiện nay, tôi chưa nhìn thấy triển vọng. Nhưng nếu là liên kết với với các trường quốc tế về mặt chuyên môn, trao đổi sinh viên, thì nên làm. Còn liên kết về tiền, rất khó để các trường hay cá nhân, tổ chức nước ngoài nào đem tiền rót vào Việt Nam để thành lập trường đại học. Nếu có, thì vốn đối ứng của phía Việt Nam phải rất lớn. Nói về vốn đầu tư, ngay cả với các nhà đầu tư trong nước, tôi cho rằng, từ nay, cũng chỉ nên cấp phép cho những dự án mở trường đại học có vốn đầu tư lớn. Nếu cứ duyệt mở cho những trường “tay không bắt giặc” sau này, sẽ không bao giờ dẹp được.

Theo Phan Long
 Báo Đầu tư

thanhhuong

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên