TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Chỗ đứng của châu Á sau khủng hoảng

Chỗ đứng của châu Á sau khủng hoảng

Châu Á, với đặc tính của thị trường mới nổi và phụ thuộc vào sức tiêu dùng của các nước phương Tây, là một khu vực dễ tổn thương nhưng cũng phục hồi mạnh mẽ sau khủng hoảng.

Châu Á, theo Economist, hiện nắm giữ hơn 1.600 tỷ USD nợ của nước Mỹ, chiếm 25% nợ do khu vực công nắm giữ. Tính cả đầu tư trực tiếp, châu Á có thể nắm đến một nửa số trái phiếu kho bạc sở hữu bởi khu vực công.

Trong trường hợp đồng đôla sụp đổ, khối tài sản châu Á tích lũy sẽ tiêu tan và quá trình toàn cầu hóa kinh tế cũng chấm dứt.

Tại Hội nghị “Nhận dạng những thách thức của châu Á và vai trò mới của Việt Nam”, Chủ tịch Viện Quan hệ quốc tế Singapore, ông Simon Tay cho rằng thực ra chúng ta mới đang ở giai đoạn ban đầu trong kinh nghiệm xử lý vấn đề lòng tham của thị trường vốn, cũng như việc tìm ra những quy tắc cho khu vực tài chính chi tiết và đầy đủ hơn.

Có một thực tế là các nước phương Tây đang sử dụng chính những biện pháp mà họ đã từng chỉ trích trong những tháng đầu của cuộc khủng hoảng, khi Châu Á đi tìm những sự hỗ trợ.

Đằng sau câu hỏi về vị trí của châu Á, liệu khu vực này nên có đồng tiền chung không? Có một đồng tiền thay thế đồng USD không? Làm sao có sự kết nối để tiết kiệm và đầu tư trong khu vực. Tất cả đòi hỏi chúng ta phải có một khu vực tài chính mạnh mẽ.

Buông lỏng hay điều tiết

Phó Tổng biên tập tạp chí The Wall Street Journal Asia Peter Stein đặt vấn đề mở đầu hội nghị, cuộc khủng hoảng tài chính đã cuốn cả thế giới lâm vào tình trạng khó khăn, nó là một thách thức rất lớn đối với nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng hiện tại là kết quả của việc các nền kinh tế lớn nhất, tinh vi phức tạp nhất như Anh, Mỹ … đã điều tiết quá ít ỏi. Ngược lại, vấn đề ở các nước đang phát triển lại là việc kiểm soát quá kỹ nền kinh tế cũng như thị trường tài chính. Trong nhiều trường hợp vấn đề này còn lớn hơn so với trường hợp thiếu sự điều tiết.

Cái mà chúng ta nhìn thấy Việt Nam trong những thập niên qua đã tăng trưởng ngoạn mục nhờ dỡ bỏ những điều tiết, những quy định quá mức. Thị trường vốn ở những nước này, nhiều khi chưa phát triển đến mức độ có thể bị lạm dụng giống như thị trường vốn của các nước phương tây.

Thực tế là các doanh nghiệp nhà nước ở những nền kinh tế này được niêm yết, phải giải trình trước các cổ đông, sẽ khiến cho họ phải làm việc hiệu quả hơn so với trước đó.

Câu hỏi đặt ra đâu là bài học mà các quốc gia rút ra từ cuộc khủng hoảng này, là làm thế nào chúng ta vừa cởi mở dỡ bỏ điều tiết và đâu là thời điểm tăng kiểm soát.

Trong cuộc khủng hoảng 1997-1998 các quốc gia châu Á rút ra được bài học là cần phải dự trữ ngoại tệ làm tấm đệm đỡ các cú sốc khi có sự biến đổi đột ngột trong nguồn vốn. Hiện tại thì ngược lại, các nước châu Á đang bị các nước phương Tây chỉ trích rằng đã dự trữ quá nhiều.

Trung Quốc hiện có khoảng 2.000 tỷ USD dự trữ. Điều này tác động rất nhiều đến chính sách lãi suất của Mỹ. Trung Quốc đang có những bước đi để mở rộng tầm ảnh hưởng của đồng NDT trên toàn cầu, “quốc tế hóa đồng NDT”. Nhưng mặt khác Trung Quốc kiểm soát NDT rất chặt.

Những kinh nghiệm từ Trung Quốc

Trong bài trình bày của mình tại hội nghị, ông Qiao Yide, Phó tổng thư ký, Hội Đồng Xúc tiến phát triển kinh tế đặc khu Dương Tử , Thượng Hải – Hồng Kông (Yangtze – Delta, Shanghai – Hongkong) đề cập đến những biện pháp Trung Quốc đã làm được thời 1997-1998.

Chính phủ Trung Quốc công bố công khai đồng nhân dân tệ sẽ không bị phá giá, đồng thời trì hoãn việc phê duyệt lại đồng tiền của mình có thể chuyển đổi theo bảng cân đối quốc gia.

Thời điểm đó, trên thực tế nhiều ngân hàng quốc doanh của Trung Quốc đã phá sản. Nhưng chính phủ đã bơm hàng tỷ vào ngân hàng quốc doanh để xóa nợ xấu.

Bằng việc đó, chính phủ đã thay đổi cơ cấu ngân hàng thương mại quốc doanh, thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ ngân hàng quốc doanh hoàn toàn sang ngân hàng thương mại cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngân hàng thương mại cổ phần.

Thay đổi cơ cấu sở hữu, quản trị doanh nghiệp cũng thay đổi. Ngành ngân hàng Trung Quốc đạt lợi nhuận 590 tỷ NDT, tỷ suất lợi nhuận trên vốn khoảng 17%. Bây giờ trong 10 ngân hàng lớn nhất thế giới có 4 ngân hàng của Trung Quốc.

Việt Nam trước những tác động của cuộc khủng hoảng

Việt Nam cho dù không tránh khỏi những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng không bị tác động trực tiếp như nhiều nước phát triển, một phần vì hệ thống tài chính chưa hội nhập hoàn toàn.

Việt Nam đã có một lựa chọn khôn ngoan khi quyết định đứng ngoài hệ thống tài chính thế giới, tránh được hội nhập quá sớm.

Tác động lớn nhất mà Việt Nam, giống như nhiều nền kinh tế xuất khẩu khác, phải chịu là do cầu trên thị trường giảm. Một số nền kinh tế mở khác trên Châu Á như Singapore, Hồng Kông, các ngân hàng khu vực này đã mua các khoản nợ xấu, mua lại các tài khoản mà nước Mỹ gọi là độc hại.

Nhưng chính sách trên danh mục đầu tư, mà các lãnh đạo ngành ngân hàng, quan chức cần phải chú ý cẩn trọng trong ngân hàng là tính toán tỷ lệ mở trong nền kinh tế nhỏ. Mở không có nghĩa là mở tất cả; cần phải đảm bảo minh bạch công khai, cập nhật thông tin kịp thời.

Ông Scott Robertson, kinh tế gia của Dragon Capital

"Một trong hững thay đổi nền tảng nhất của Việt Nam đã làm cho đất nước phát triển, thiết chế về quản lý đất, cấp sổ đất, sở hữu đất rộng rãi cho dân chúng. Đó là phương tiện mở rộng của cải cho toàn xã hội.

Bây giờ người dân có giấy chứng nhận sở hữu đất để tạo cơ hội kinh doanh. Đó là một cái rất đơn giản nhưng nhiều tác động trên thị trường nó thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đó là nền tảng thúc đẩy đầu tư.

Nhưng với những chuyển đổi thiết chế đất đai, ngân hàng, Việt Nam cần quản lý những thay đổi đó tốt hơn. Tiền mà người dân giữ gồm tiền đồng, USD, vàng không được đưa vào ngân hàng lưu thông, nếu người dân đưa vào ngân hàng, ngân hàng đem đầu tư sẽ tạo ra một làn sóng. Thúc đẩy ngân hàng mở chi nhánh ở nông thôn để huy động điều đó là rất tốt".

Brett Krause: Tổng giám đốc Citibank Việt Nam

"Rõ ràng có một lượng dự trữ vốn lớn trong dân mà chúng ta chưa khai thác hết. Làm sao để triển khai vốn đó hiệu quả hơn?

Đối với các doanh nghiệp nhà nước, đây là một cơ hội để chính phủ Việt Nam cân nhắc thay đổi kiểm soát liên quan huy động vốn nói chung như thúc đẩy việc làm, thúc đẩy cầu trong nước. Có lẽ thực đơn trước đây mà chúng ta cứ bê nguyên cho tương lai thì không ổn".

Vũ Minh – Q. Nguyễn

phuongmai