TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nửa năm sử dụng hết 75% gói kích cầu:

Có nên dừng gói kích cầu?

05-07-2009 - 23:38 PM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

Có nên dừng gói kích cầu?

Để thực hiện bù lãi suất ước 17.000 tỷ đồng, dự nợ của các ngân hàng phải lên tới hơn 420.000 tỷ đồng. Trong khi hệ thống ngân hàng chỉ huy động được khoảng 65% nhu cầu vốn.

Ngân hàng nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến cuối tuần qua (ngày 2/7/2009), số dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đã đạt 372.272,09 tỷ đồng, tương đương 75% quy mô tổng gói kích cầu. Tuy nhiên, hiện nay dư luận đang quan tâm tới hiệu quả của gói kích cầu này và nguy cơ lạm phát mà nó có thể gây ra.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành cho rằng, đã đến lúc các cơ quan quản lý cần xem xét lại một cách nghiêm túc về hiệu quả và những nguy cơ mà gói kích cầu sẽ để lại…

Ông đánh giá như thế nào về tình hình lạm phát năm nay?

Ông Bùi Kiến Thành: Phải nhìn nhận rằng vấn đề lạm phát năm nay là một vấn đề phức tạp và nguy hiểm. Năm nay khối lượng tín dụng đẩy ra trên thị trường quá nhiều lại không được quản lý chặt chẽ cộng thêm đó là tình trạng bội chi ngân sách năm nay quá lớn.

Nguồn thu ngân sách thì eo hẹp do phải miễn, giảm, hoãn, giãn hàng loạt các loại thuế; song do cần kích cầu, Quốc Hội đã nâng mức bội chi ngân sách là 7% GDP. Đây là mức bội chi ngân sách được dự tính là lớn nhất từ trước tới nay (trước đây, bội chi ngân sách chỉ 4% hoặc dưới 5% GDP).

Về nguồn cung tiền và dư nợ tín dụng trong 6 tháng đầu năm nay đã khá lớn. GDP 6 tháng đầu năm tăng theo giá thực tế là 12,4%. Cả cung tiền và tổng dư nợ tín dụng trong 6 tháng qua đã tăng vượt tốc độ này của GDP. Cung tiền chỉ trong có nửa đầu năm đã tăng tới 16 - 17% so với cùng kỳ năm 2008… Hai yếu tố này đã gây áp lực lớn lên vấn đề lạm phát của năm nay.

Theo ông tỷ lệ lạm phát năm nay sẽ dừng ở con số bao nhiêu?

Ông Bùi Kiến Thành: Hiện giờ chưa thể đưa ra được con số chính xác về tỷ lệ lạm phát của năm nay. Tuy nhiên, theo tôi việc đưa ra con số cụ thể không phải là điều quan trọng nhất hiện nay mà điều quan trọng là chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta đang bị “tụt dốc”.

Việt Nam đang phải đối mặt với hai vấn đề, một là chúng ta phải phát triển và một mặt chúng ta phải đối mặt với lạm phát. Nếu phát triển một cách vội vã thì lạm phát lại trở nên nguy hiểm vô cùng; còn nếu mải mê chống lạm phát mà quên mất việc phát triển thì chúng ta lại quay trở lại tình hình của năm 2008, đẩy các doanh nghiệp vào tình cảnh khó khăn do chịu lãi suất cao.

Vậy theo ông, Việt Nam cần có những giải pháp gì để có thể hạn chế được tối đa những tác hại của lạm phát có thể gây ra trong năm nay?

Ông Bùi Kiến Thành: Theo tôi, vấn đề cốt lõi là ở công tác dự báo. Phải thừa nhận rằng, đối với các “cơn bão” kinh tế xảy ra ở Việt Nam thì khâu dự báo luôn có vấn đề. Một khi khâu dự báo không tốt thì khi “bão” đổ vào rồi, các giải pháp về phòng hộ không tốt thì sẽ dễ dẫn đến các tổn hại lớn cho nền kinh tế.

Ngoài ra, doanh nghiệp và người dân chiếm tới 60% tổng đóng góp cho GDP của tiêu dùng trong dân cư. Vì vậy, Chính phủ phải làm thế nào để tiêu dùng của người dân kích thích được các doanh nghiệp sản xuất, đầu tư.

Hiện nay, đang có ý kiến cho rằng: gói kích cầu, hỗ trợ lãi suất của Chính phủ là thủ phạm chính gây ra tình trạng lạm phát. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Ông Bùi Kiến Thành: Gói kích cầu này ra đời trong hoàn cảnh các doanh nghiệp đang rất khó khăn về nguồn vốn do đó nó đã giúp cho nhiều doanh nghiệp được tiếp sức. Tính đến thời điểm này, gói kích cầu đã giải ngân được 75% tổng số vốn. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là bao nhiêu phần trăm trong tổng số tiền đó được triển khai đúng mục đích và đúng đối tượng?

Sở dĩ người ta nghi ngờ về tác dụng của gói kích cầu này là do có một lượng tiền lớn đổ vào lưu thông mà không giúp tạo ra một lượng hàng hóa tương ứng để cân đối với lượng tiền trên… Từ đó tác động đến việc tăng giá cả hàng hóa trên thị trường.

Kích cầu đầu tư thông qua việc nới lỏng tín dụng cho các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp mà thiếu sự thẩm định và giám sát thận trọng thì kết quả rất có thể nền kinh tế sẽ không phát triển như mong đợi, lạm phát sẽ quay trở lại.

Ông có cho rằng đã đến lúc Việt Nam nên dừng gói kích cầu này lại?

Ông Bùi Kiến Thành: Tôi đã từng nghe ý kiến cho rằng, điều quan trọng là sự phục hồi của nền kinh tế thực. Nếu các doanh nghiệp vượt qua được ngưỡng khó khăn nhất định sẽ hoạt động trở lại và có lợi nhuận. Vì vậy, việc bỏ hỗ trợ lãi suất cũng không ảnh hưởng lớn tới hoạt động của họ và còn giúp đẩy nhanh hơn tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp.

Tôi cho rằng, gói kích cầu đã đi gần hết quãng đường của mình, dừng lại vào thời điểm này sẽ không giải quyết vấn đề gì. Hơn nữa, nếu gói hỗ trợ lãi suất này dừng đột ngột, không có các giải pháp thay thế đi kèm chắc chắn sẽ gây sốc cho doanh nghiệp và tổn hại mạnh đến nền kinh tế.

Ngoài ra, dừng chính sách bù lãi suất nếu không cẩn trọng, không có các chính sách hỗ trợ đi kèm ngay từ bây giờ thì tái lạm phát có thể bùng phát. Và khi quay trở lại rồi thì lạm phát sẽ trở nên rất phức tạp, khó giải quyết.

Vẫn tiếp tục gói kích cầu này, vậy theo ông chúng ta nên làm gì để gói kích cầu này giảm áp lực lên lạm phát?

Ông Bùi Kiến Thành: Theo tôi, mặc dù gói kích cầu đã đi được một quãng thời gian dài và dải ngân được một khối lượng tiền tương đối lớn, nhưng ngay bây giờ Chính phủ phải xem xét lại hiệu quả của nguồn vốn bỏ ra. Phải xem số tiền đó được sử dụng như thế nào, thẳng thắn nhìn nhận xem bao nhiêu phần trăm trong số đó sử dụng sai mục đích để từ đó có những biện pháp kiểm tra, giám sát tốt nguồn tiền đã chi ra.

Theo tính toán, để được hỗ trợ hết 17.000 tỷ VND cho vay ngắn hạn của gói kích cầu đầu tiên, dư nợ tín dụng ngắn hạn của các ngân hàng phải đạt bình quân khoảng 420.000 tỷ đồng.

Để thực hiện bù lãi suất hết gói kích cầu thứ hai (ước 17.000 tỷ đồng), dự nợ trung dài hạn hỗ trợ lãi suất của các ngân hàng cũng lên tới hơn 420.000 tỷ đồng. Trong khi đó, nguồn vốn trong dân cư và nền kinh tế thực sự còn rất lớn nhưng hệ thống ngân hàng mới chỉ huy động được khoảng 65%. Thực tế này đã đẩy lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng lên cao và làm tăng nguy cơ quay trở lại của lạm phát.

Hạnh Lệ
(ghi)

phuongmai

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM