TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Công nghiệp phụ trợ yếu kém, manh mún

Công nghiệp phụ trợ yếu kém, manh mún

Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn chỉ là ...tiềm năng và trở thành mảnh đất màu mỡ hấp dẫn các doanh nghiệp nước ngoài

Điện – điện tử, dệt may, da giày… là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Thế nhưng, đây cũng là những ngành mà phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu, nên giá trị gia tăng thấp. Đây là thực tế chung của nhiều ngành khi chiến lược phát triển sản phẩm và phát triển công nghiệp phụ trợ không song hành. Và đây lại là mảnh đất hấp dẫn các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là những doanh nghiệp đến từ Nhật Bản.

Vẫn chỉ là… tiềm năng

Hiện nay, sản phẩm công nghiệp phụ trợ của Việt Nam phát triển mạnh nhất ở ngành sản xuất bao bì và xe máy. Ngành sản xuất bao bì đã cung cấp được hầu hết những sản phẩm bao bì bằng giấy, nhựa, gỗ… cho việc đóng gói các sản phẩm sản xuất trong nước và xuất khẩu.

Ngành sản xuất xe máy chiếm tỷ trọng lớn với tỷ lệ nội địa hóa đến 80%, trong đó đã cung cấp nhiều loại phụ tùng, linh kiện để lắp ráp xe máy như toàn bộ chi tiết nhựa, khung xe, phần lớn các chi tiết kim loại, săm lốp, bình điện… trừ động cơ.

Ở mặt bên kia của sự so sánh, ngành sản xuất nguyên vật liệu và ngành công nghiệp ô tô là hai ngành mà công nghiệp phụ trợ kém phát triển nhất hiện nay. Trong lúc ngành công nghiệp ô tô có tỷ lệ nội địa hóa mới ở mức 5–10% và cũng chỉ cung cấp sản phẩm phụ trợ ở một số sản phẩm đơn giản, giá trị thấp như: bộ dây điện trong xe, ghế ngồi, một số chi tiết kim loại, nhựa, cao su… thì ngành sản xuất nguyên vật liệu lại quá kém, nguyên nhân là do phần lớn nguyên liệu sử dụng trong các ngành công nghiệp chủ lực đều phải nhập khẩu.

Tương tự, ngành dệt may và da giày hiện là 2 ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng đến 80% vải, da, vải giả da và các phụ liệu như chỉ khâu cao cấp, nút áo, khóa kim loại, các vật liệu đựng, độn… vẫn phải nhập khẩu.

Còn các phụ liệu trong nước sản xuất như một số loại vải, khóa kéo… lại ít được sử dụng trong các sản phẩm xuất khẩu. Ngành điện–điện tử cũng được coi là tiềm năng bởi thị trường nội địa khá lớn và phù hợp hơn với khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước nhưng tỷ lệ nội địa hóa cũng chỉ đạt khoảng 20–40%.

Các ngành đòi hỏi kỹ thuật không quá cao như ngành nhựa, cơ khí, xử lý bề mặt… cũng chưa khẳng định được vị trí trong tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao. Phần lớn chỉ dừng lại ở mức sản xuất cho hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp thông thường.

Trình độ công nghệ phục vụ trong ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chỉ mới ở mức trung bình hoặc thấp, lạc hậu hơn so với khu vực từ 10 - 15 năm, nên chất lượng sản phẩm không cao và chưa có khả năng cạnh tranh.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do số lượng doanh nghiệp chuyên về công nghiệp phụ trợ còn rất ít, tỷ lệ giữa các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp chế tạo, lắp ráp còn quá thấp.

Bên cạnh đó, lâu nay hầu hết các doanh nghiệp và cơ quan chức năng cũng chưa nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của ngành công nghiệp phụ trợ. Do đó chưa có sự quan tâm, quy hoạch và đầu tư một cách bài bản, đúng mức của Nhà nước cũng như chính bản thân các doanh nghiệp.

Mảnh đất màu mỡ cho… nước ngoài

Theo thống kê của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa trung bình của các nhà sản xuất Nhật Bản ở ASEAN 4 (Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philipines) đã tăng từ 41,8% năm 1998 lên 51,8% năm 2003, trong lúc đó tỷ lệ này ở Việt Nam hiện nay chỉ đạt mức 22,6%.

Nhưng các doanh nghiệp cung cấp linh kiện hiện nay ở Việt Nam cũng chủ yếu là các nhà cung cấp linh kiện Nhật Bản, Đài Loan đang đầu tư tại Việt Nam. Còn các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào lĩnh vực này lại chiếm tỷ trọng rất ít cả về tỷ trọng và số lượng doanh nghiệp.

Nhu cầu nhiều nhưng nguồn cung trong nước kém, phải nhập khẩu nên ngành công nghiệp phụ trợ được nước ngoài đẩy mạnh khai thác là chuyện đương nhiên. Trong đó, đáng kể nhất là Nhật Bản. Tại cuộc “Triển lãm về công nghiệp phụ trợ Việt Nam – Nhật Bản” lần thứ 2 diễn ra vào trung tuần tháng 11 vừa qua tại Hà Nội, có đến 62/128 gian hàng là của doanh nghiệp Nhật Bản. Và tại triển lãm này, người ta chứng kiến cảnh người mua, kẻ bán tiếp thị nhộn nhịp.

Sự quan tâm của các doanh nghiệp Nhật Bản còn thể hiện qua việc có tới gần 80 doanh nghiệp, với thành phần không chỉ là những nhà đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, mà còn có cả các doanh nghiệp Nhật Bản tại Singapore, Trung Quốc, Thái Lan và một số nước khác.

Phần đông các doanh nghiệp của Nhật Bản tham gia vào triển lãm lần này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất điện máy – điện tử, cơ khí chế tạo, gia công kim loại, sản xuất phụ tùng ô tô–xe máy, nhựa, hóa chất… đến giao nhận, sản xuất phần mềm.

Điều đáng lưu ý là ngoài trưng bày giới thiệu sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng như Toyota, Canon, Honda, Yamaha, Toshiba…, còn có nhiều đại diện của giới doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề ở các nước khác tới tham quan, tìm kiếm cơ hội đầu tư, hợp tác.

Các doanh nghiệp Nhật Bản chuẩn bị khá chu đáo, không những giới thiệu khá chi tiết về nhu cầu của các nhà sản xuất Nhật Bản đối với các nhà sản xuất Việt Nam, những thông tin thống kê qua kết quả điều tra về thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam… mà còn có cả những tham luận mang tính gợi ý, đề xuất để ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam phát triển trong thời gian tới.

Giới đầu tư Nhật Bản đã thể hiện ý định tham gia hợp tác và đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm công nghiệp phụ trợ. Điều này cho thấy việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp Việt Nam là có cơ sở, nếu biết phát huy, khai thác.

Ông Đỗ Thắng Hải, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), cho biết hiện nay nhận thức về công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam đang thay đổi mạnh mẽ, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực này.

Nhà nước cũng đã có các chính sách, cả về tầm vĩ mô cũng như vi mô, để hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận hiện tại ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn còn sơ khai, manh mún và chưa phát triển.

Thực trạng doanh nghiệp nước ngoài sẽ thực hiện “nội địa hóa” sản phẩm của họ bằng sản phẩm sản xuất từ các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam đang dần hiện hữu. Trong khi, lẽ ra việc phát triển lĩnh vực sản phẩm công nghiệp phụ trợ là một lợi thế ưu tiên dành cho các doanh nghiệp trong nước.

Nghịch lý đó cần phải được giải quyết, nếu muốn ngành công nghiệp Việt Nam không bị tụt hậu khi, chúng ta ngày càng hội nhập sâu nền kinh tế thế giới.

Theo Đỗ Huy
SGGP

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên