TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2007: Kinh tế VN tăng trưởng vững chắc

Đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2007: Kinh tế VN tăng trưởng vững chắc

P/E của TTCKVN không cao bất thường. Tăng trưởng kinh tế VN vẫn vững chắc năm 2007 chủ yếu nhờ nguồn thu từ xuất khẩu phi dầu khí, đầu tư và tiêu dùng tư nhân.

Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đối với các nền kinh tế Đông Á, trong đó có VN là không đáng kể. Đó là nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB) trong báo cáo cập nhật mới nhất về Đông Á & Thái Bình Dương, công bố hôm 15.11.

Vốn nước ngoài tăng mạnh

Theo đánh giá của WB, GDP của VN tăng 8,3% trong 9 tháng đầu năm 2007. Đầu tư và tiêu dùng trong nước tăng trưởng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng gần 23% đến tháng 9.2007. Cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng lên 10,2 tỉ USD năm 2006 và 9,6 tỉ USD trong 9 tháng đầu năm 2007, tăng 38% so với năm ngoái. Tỉ lệ giải ngân FDI tăng 20% đến tháng 9.2007, chiếm khoảng 6,8% GDP. Kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng nhanh (tăng 19,4% năm), mặc dù xuất khẩu dầu thô giảm 10% do hạn chế về năng lực sản xuất.

Nhập khẩu tăng 30% tính đến tháng 9.2007 do nhu cầu đầu tư tăng và nhu cầu nhập khẩu đầu vào của quá trình mở rộng sản xuất công nghiệp. Sự tăng trưởng nhanh của nhập khẩu dẫn đến tỉ lệ thâm hụt thương mại cao, dự tính đạt 7% GDP năm 2007. Thâm hụt tài khoản vãng lai dự kiến đạt 3% GDP trong năm nay so với mức 0,3% năm 2006. Tuy nhiên, tình hình cán cân thanh toán vẫn ổn định và sự thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp chủ yếu bởi nguồn FDI không tạo nợ, viện trợ phát triển chính thức và nguồn thu của khu vực tư nhân.

Nguồn đầu tư gián tiếp cũng tăng nhanh năm 2006 và đầu năm 2007 do thị trường vốn phát triển nhanh. Nguồn dự trữ ngoại tệ đã tăng nhanh từ mức 8,6 tỉ USD năm 2005 lên 11,5 tỉ USD năm 2006 và dự kiến đạt trên 20 tỉ USD vào cuối năm 2007. Nợ nước ngoài chiếm 31% GDP theo tỉ lệ danh nghĩa và 22% theo tỉ lệ thực. Hiện nay, VN vẫn là một nước có mức rủi ro thấp về nợ nước ngoài.

Bài toán lạm phát
Theo đánh giá của WB, GDP của VN tăng 8,3% trong 9 tháng đầu năm 2007. Đầu tư và tiêu dùng trong nước tăng trưởng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng gần 23% đến tháng 9.2007. Cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng lên 10,2 tỉ USD năm 2006 và 9,6 tỉ USD trong 9 tháng đầu năm 2007, tăng 38% so với năm ngoái. Tỉ lệ giải ngân FDI tăng 20% đến tháng 9.2007, chiếm khoảng 6,8% GDP. Kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng nhanh (tăng 19,4% năm), mặc dù xuất khẩu dầu thô giảm 10% do hạn chế về năng lực sản xuất.

Nhập khẩu tăng 30% tính đến tháng 9.2007 do nhu cầu đầu tư tăng và nhu cầu nhập khẩu đầu vào của quá trình mở rộng sản xuất công nghiệp. Sự tăng trưởng nhanh của nhập khẩu dẫn đến tỉ lệ thâm hụt thương mại cao, dự tính đạt 7% GDP năm 2007. Thâm hụt tài khoản vãng lai dự kiến đạt 3% GDP trong năm nay so với mức 0,3% năm 2006. Tuy nhiên, tình hình cán cân thanh toán vẫn ổn định và sự thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp chủ yếu bởi nguồn FDI không tạo nợ, viện trợ phát triển chính thức và nguồn thu của khu vực tư nhân.

Nguồn đầu tư gián tiếp cũng tăng nhanh năm 2006 và đầu năm 2007 do thị trường vốn phát triển nhanh. Nguồn dự trữ ngoại tệ đã tăng nhanh từ mức 8,6 tỉ USD năm 2005 lên 11,5 tỉ USD năm 2006 và dự kiến đạt trên 20 tỉ USD vào cuối năm 2007. Nợ nước ngoài chiếm 31% GDP theo tỉ lệ danh nghĩa và 22% theo tỉ lệ thực. Hiện nay, VN vẫn là một nước có mức rủi ro thấp về nợ nước ngoài.

Bài toán lạm phát

Lạm phát đã tăng lên trong những tháng gần đây, gây ra tranh luận mạnh trong giới hoạch định chính sách về các giải pháp đối phó phù hợp. Do nền kinh tế VN có độ mở cao và chính sách tỉ giá hiện hành gắn vào USD, lạm phát tăng một phần do mức giá hàng hoá trên thị trường quốc tế tăng lên. Khối lượng vốn lớn như FDI, kiều hối, đầu tư gián tiếp và ODA đã buộc NHNN phải mua một khối lượng lớn ngoại tệ để bình ổn tỉ giá nhưng cũng dẫn đến tăng nguồn cung tiền.

Chính phủ đã cố gắng giảm điều này thông qua việc phát hành trái phiếu ngắn hạn nhưng mức lãi suất không đủ hấp dẫn để chính sách này phát huy tác dụng. VN là một nước có mức sinh hoạt rẻ so với thế giới và sự tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ gắn liền với việc tăng tỉ giá. Đặc biệt nguồn thu từ lao động sẽ tăng nhanh hơn CPI, tạo sức ép đối với chi phí lao động. Với một chính sách tỉ giá gắn với USD thì sự tăng trưởng tỉ giá thực có thể xuất hiện thông qua giá cả trong nước cao. Điều này tạo một mức sàn đối với lạm phát thậm chí trong khuôn khổ của một chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.

TTCKVN: P/E không bất thường
Lạm phát đã tăng lên trong những tháng gần đây, gây ra tranh luận mạnh trong giới hoạch định chính sách về các giải pháp đối phó phù hợp. Do nền kinh tế VN có độ mở cao và chính sách tỉ giá hiện hành gắn vào USD, lạm phát tăng một phần do mức giá hàng hoá trên thị trường quốc tế tăng lên. Khối lượng vốn lớn như FDI, kiều hối, đầu tư gián tiếp và ODA đã buộc NHNN phải mua một khối lượng lớn ngoại tệ để bình ổn tỉ giá nhưng cũng dẫn đến tăng nguồn cung tiền.

Chính phủ đã cố gắng giảm điều này thông qua việc phát hành trái phiếu ngắn hạn nhưng mức lãi suất không đủ hấp dẫn để chính sách này phát huy tác dụng. VN là một nước có mức sinh hoạt rẻ so với thế giới và sự tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ gắn liền với việc tăng tỉ giá. Đặc biệt nguồn thu từ lao động sẽ tăng nhanh hơn CPI, tạo sức ép đối với chi phí lao động. Với một chính sách tỉ giá gắn với USD thì sự tăng trưởng tỉ giá thực có thể xuất hiện thông qua giá cả trong nước cao. Điều này tạo một mức sàn đối với lạm phát thậm chí trong khuôn khổ của một chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.

TTCKVN: P/E không bất thường

TTCKVN đã phát triển nhanh trong 2 năm qua và đến cuối tháng 9.2007, số các Cty niêm yết đã tăng lên 206, tổng giá trị TTCK vượt mức 22 tỉ USD, tương đương với 32,4% GDP, vẫn thấp hơn Âận Độ (45%) hoặc Trung Quốc (70%). Liệu thị trường có được định giá quá cao hay không là một vấn đề gây tranh cãi sôi nổi. Mức giá so với thu nhập mỗi CP (P/E) không cao bất thường đối với một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và có xu hướng bị thổi phồng do các dữ liệu về lợi nhuận thường đến muộn hơn thực tế. Lợi nhuận của các Cty niêm yết đã tăng rất nhanh.

Sau một giai đoạn tăng nhanh, đến tháng 3/2007, thị trường hiện nay đã đi vào ổn định. Việc niêm yết một số Cty nhà nước và NHTM trong những tháng tới có thể tạo sức ép giảm giá. Chính phủ đang cân nhắc thời điểm niêm yết trong thời gian tới do lo ngại giá CK giảm sút mạnh.

Các NĐTNN vẫn chủ yếu là mua vào song số lượng giảm đi. Do xu hướng giảm nhiệt của thị trường nên các biện pháp kiểm soát vốn đã được thực hiện trước đây có thể sẽ không được thực hiện nữa. Tuy nhiên, yêu cầu về công khai chặt chẽ hơn, bảo vệ NĐT tốt hơn và nâng mức room cho các NĐTNN có thể là cần thiết để duy trì động lực phát triển.
 
Theo Chiến Thắng
Lao động

thanhtu