TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Điện thoại cố định hết thời?

Điện thoại cố định hết thời?

Trái với tốc độ tăng trưởng vượt bậc của điện thoại di động, điện thoại cố định ngày càng thụt lùi nhưng chưa thể chết; nó đang ần mình chờ ngày trở lại với hình hài mới.

Năm 2005, anh Phan Công Bình, phóng viên một tờ báo tại TP.HCM, gửi tiền về quê cho gia đình bắt một cái điện thoại cố định để tiện liên lạc. Thời điểm đó, bắt điện thoại cố định rất phức tạp vì phải câu đường dây khá xa, chi phí cũng mất 2 triệu đồng. Mấy năm sau đó nhiều gia đình khác cũng đã bắt được điện thoại cố định, nhưng chưa nhiều và điện thoại cố định vẫn là phương tiện liên lạc phổ biến.

Tháng rồi tình cờ anh Bình gọi về thăm gia đình qua số điện thoại cố định, nhưng không liên lạc được. Gọi qua số di động, được người thân cho biết, đường dây bị đứt gần cả tháng nhưng cũng không buồn gọi công ty dịch vụ nối lại vì “có gì gọi di động cũng được”. Bởi lẽ, nếu cộng luôn cả chiếc điện thoại cố định không dây vốn được nhà mạng cho xài miễn phí, giờ không còn xài vì không còn khuyến mãi thì nhà anh Bình có tới 5 máy điện thoại, dù chỉ có 4 người.

Di động soán ngôi

Đó là câu chuyện ở nông thôn và chắc không chỉ diễn ra ở gia đình của anh Bình. Ở thành thị, đặc biệt là trong các gia đình trẻ, khi mỗi người ai cũng có điện thoại di động, thậm chí có người có đến 3 chiếc, thì điện thoại cố định càng ít có cơ hội được dòm ngó đến.

Hình ảnh rõ ràng nhất cho thấy sự thất sủng của điện thoại cố định ở các thành phố lớn là các buồng điện thoại công cộng dùng thẻ. Chỉ 5 năm trước, khi mới ra đời, các buồng điện thoại này được rất nhiều người đón nhận nhờ tính tiện lợi. Thế nhưng, hiện tại, chúng đã trở thành nơi trú ngụ của… rác và nghe đâu cơ quan chủ quản chuẩn bị bỏ ra một khoản tiền lớn để dẹp bỏ chúng, trả lại mỹ quan cho thành phố.

Câu chuyện của Sacom, công ty sản xuất cáp viễn thông hàng đầu Việt Nam hiện nay, cũng cho thấy sự thay đổi chóng mặt trong lĩnh vực này. Năm 2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) đưa ra chiến lược phát triển các nhà máy cáp đồng để đáp ứng mục tiêu của Nhà nước là nâng số điện thoại cố định lên 20 máy trên 100 dân. Song, chỉ 1 năm sau, sự bùng nổ của điện thoại di động đã khiến kế hoạch này bị phá sản hoàn toàn. VNPT phải ngưng ngay chiến lược phát triển cáp đồng. Nhiều máy móc sản xuất cáp đồng trị giá hàng triệu USD vừa mới nhập về đã phải đắp chiếu. Cũng trong năm 2005, thuế nhập khẩu điện thoại di động chỉ còn khoảng 5% (so với mức 10% trước đó) và Viettel bắt đầu tham gia thị trường viễn thông di động, phá vỡ thế độc quyền của VNPT.

Cách đây chừng chục năm, khi điện thoại di động còn là sản phẩm xa xỉ, chỉ những người thuộc tầng lớp khá giả mới có thể sở hữu bởi giá thiết bị lẫn giá cước đều đắt đỏ, điện thoại cố định được xem là phương tiện liên lạc chính. Theo ông Vũ Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm Thông tin của VNPT, tốc độ phát triển của điện thoại cố định ở Việt Nam vào năm 2005 lên đến 60%, thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Tổng số thuê bao điện thoại vào thời điểm đó là khoảng 15 triệu, với tỉ lệ chia đều 50/50 cho điện thoại cố định và di động.

Thế nhưng, chỉ trong chưa đầy 5 năm, với sự gia nhập của một loạt nhà cung cấp dịch vụ, giá cước và giá thiết bị liên tục giảm, điện thoại di động đã hoàn toàn đảo ngược tình thế.

Ông Việt cho hay: “Thuê bao cố định tăng trưởng rất chậm, mỗi năm tăng 8-10% là cùng. Thậm chí có năm tỉ lệ cắt thuê bao còn nhiều hơn tỉ lệ lắp đặt mới. VNPT có thời gian đạt 12 triệu thuê bao, có lúc xuống 8 triệu, giờ lên lại gần 12 triệu”. Trong khi đó, trong lĩnh vực thuê bao di động, VNPT (gồm VinaPhone và MobiFone) hiện sở hữu 77,5 triệu thuê bao, tăng tới 54% so với năm 2009.

Tính đến hết tháng 8.2010, trong tổng số 158,6 triệu thuê bao điện thoại của cả nước thì điện thoại di động chiếm đến 142,2 triệu (89,5%), điện thoại cố định chỉ còn 16,4 triệu (10,5%). Như vậy, nếu tính cả di động và cố định, trung bình mỗi người dân Việt Nam sở hữu gần 2 số điện thoại.


Thị phần dịch vụ viễn thông tại Việt Nam tính đến hết tháng 7/2010 - Nguồn: NCĐT

Nhà mạng vẫn theo cố định

Sự yếu thế của điện thoại cố định tại thị trường Việt Nam cũng thể hiện ở sự im ắng của các nhà mạng. Tính đến thời điểm này đã có 8 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ điện thoại cố định, trong đó cả điện thoại và internet. Doanh nghiệp được cấp phép gần đây nhất là Công ty Viễn thông Toàn Cầu (GTel). Trước đó, VNPT, Viettel, EVN Telecom, CMC Telecom, FPT Telecom, SPT và VTC Telecom đã được cấp phép cung cấp dịch vụ điện thoại hữu tuyến. Tuy nhiên, nhìn vào những động thái của họ, rất dễ nhận ra rằng sự quan tâm của doanh nghiệp chủ yếu dành cho dịch vụ điện thoại di động.

Chẳng hạn, GTel hiện tại chỉ phát triển mạng di động là Beeline, CMC Telecom thì tập trung phát triển dịch vụ hạ tầng mạng internet. FPT Telecom cũng chỉ phát triển điện thoại cố định như một giá trị cộng thêm cho các khách hàng sử dụng internet nếu có nhu cầu, dù trước đó kế hoạch của họ rất hoành tráng.

Cuối năm 2006, FPT được cấp phép làm điện thoại cố định. Với hạ tầng sẵn có là đường dây cung cấp dịch vụ internet ADSL, ông Trương Đình Anh, Tổng Giám đốc FPT Telecom, cho biết, Công ty sẽ chính thức cung cấp dịch vụ sau 3 tháng, tức đầu năm 2007 và dự kiến đến tháng 6.2007 sẽ phát triển được 100.000 thuê bao, đến hết năm sẽ là 250.000. Tuy nhiên, đến nay, sau hơn 3 năm nhận giấy phép, trong bảng thị phần điện thoại cố định tại Việt Nam, FPT vẫn chưa có được một % nào.

Thực tế này cũng dễ hiểu, nếu xem xét nhu cầu của người tiêu dùng, cũng như những vấn đề mà doanh nghiệp kinh doanh điện thoại cố định đang gặp phải.

Đứng ở góc độ người tiêu dùng, giá cước di động nay đã quá rẻ. Cước điện thoại di động hiện nay không cao hơn bao nhiêu so với điện thoại cố định liên tỉnh (khoảng 1.700 đồng/phút, so với mức 1.400 đồng/phút cước gọi liên tỉnh), nhưng lại có rất nhiều ứng dụng kèm theo, trong khi điện thoại cố định chỉ có chức năng thoại.

Đứng ở góc độ kinh doanh của doanh nghiệp, hầu hết các doanh nghiệp cho rằng kinh phí đầu tư ban đầu cho thuê bao cố định thì nhiều, mà thu lãi chẳng là bao. Theo ông Hoàng Mạnh Cường, Tổng Giám đốc CMC Telecom, mức đầu tư cho một thuê bao điện thoại cố định cao gấp 10 lần so với đầu tư vào thuê bao di động.


Tỷ trọng thuê bao di động và cố định đến tháng 7/2010 - nguồn: NCĐT

Trong khi đó, ông Việt, Tập đoàn VNPT, cho biết, doanh thu của thuê bao điện thoại cố định tại Việt Nam rất thấp và giá cước thấp hơn giá thành. Hiện nay doanh thu của một thuê bao điện thoại cố định chỉ khoảng 75.000 - 80.000 đồng/tháng, trong đó phí thuê bao hằng tháng đã chiếm gần 50% (30.000 đồng)

Đến đây, câu hỏi cần được đặt ra là: Tại sao thị trường không phát triển, lợi nhuận thấp nhưng các nhà mạng vẫn tiếp tục xin được cấp phép làm điện thoại cố định?

Theo ông Cường, Công ty CMC Telecom (được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực này vào năm 2008), họ xin cấp phép để xí chỗ. “Kho số là một trong những tài nguyên của ngành viễn thông. Kho số chỉ có hạn, nếu không xin trước thì sau này muốn làm cũng không còn chỗ”, ông nói.

Theo Nguyễn Hùng
Nhịp cầu đầu tư

phuongmai