TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Khắc phục những “lỗ hổng” trong chính sách thuế GTGT

Khắc phục những “lỗ hổng” trong chính sách thuế GTGT

Bộ Tài chính đã chính thức hoàn tất nội dung Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT),Luật sửa đổi,bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT

. Đây là Nghị định thay thế 2 Nghị định hướng dẫn Luật thuế GTGT hợp nhất nhằm bảo đảm nguyên tắc đơn giản, minh bạch và phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, tạo thuận lợi tối đa cho DN, khuyến khích các DN sản xuất kinh doanh và chấp hành đúng nghĩa vụ nộp thuế GTGT.

Cụ thể hoá đối tượng không chịu thuế

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Cao Anh Tuấn, Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT đã bổ sung đối tượng không chịu thuế như: Bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷ sản; Dịch vụ cho vay của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng, bán nợ, kinh doanh ngoại tệ; Tài sản bảo đảm của khoản nợ bán ra của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi một số dịch vụ như: Chuyển dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư thuộc đối tượng không chịu thuế sang đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất 10%; Quy định mức doanh thu để xác định hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh là từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.

Căn cứ các quy định trên, Bộ Tài chính đã quy định cụ thể trong dự thảo Nghị định hợp nhất là, đối với hộ, cá nhân kinh doanh không phải nộp thuế GTGT, đề nghị quy định chi tiết năm có doanh thu từ 100 triệu đồng trở xuống làm căn cứ xác định là năm dương lịch trước liền kề theo quy định của Bộ Tài chính (vì thực tế có trường hợp mới ra kinh doanh chưa đủ 12 tháng, kinh doanh theo mùa vụ, tạm ngừng kinh doanh...).

Ngoài ra, theo Bộ Tài chính trên thực tế đã phát sinh một số trường hợp chuyển nhượng quyền góp vốn, chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc quyền tham gia dự án đầu tư nhưng do chưa có quy định nên phát sinh vướng mắc.

Do vậy, Dự thảo nêu rõ, với chuyển nhượng quyền góp vốn, hoạt động này có liên quan đến vốn và do thuế GTGT không thu trên các hoạt động về vốn nên đề nghị quy định chuyển nhượng quyền góp vốn không chịu thuế GTGT như chuyển nhượng vốn.

Đối với chuyển nhượng dự án đầu tư, Bộ Tài chính đề xuất việc chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư thuộc diện không tính thuế GTGT; thuế GTGT đầu vào sử dụng cho dự án đầu tư sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế đã được khấu trừ, hoàn thuế không bị truy hoàn.

Với phương án này không ảnh hưởng đến số thu NSNN (vì nếu tính thuế thì bên nhận chuyển nhượng được kê khai, khấu trừ). Phương án này có ưu điểm là người nhận chuyển nhượng không phải ứng số tiền lớn ra để nộp thuế và kê khai khấu trừ, chờ hoàn thuế GTGT.

Ngoài ra, theo Bộ Tài chính, trong bối cảnh hiện nay, nhiều DN đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải thực hiện thoái vốn trong các lĩnh vực ngoài ngành và tự tái cấu trúc giữa các thành viên trong cùng tập đoàn nên phát sinh nhiều trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư. Việc tính thuế GTGT sẽ buộc DN nhận chuyển nhượng và DN chuyển nhượng thu xếp khoản vốn lớn, làm ảnh hưởng đến dòng tiền của DN.

Khắc phục bất cập giá tính thuế

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, trong thời gian vừa qua đã phát sinh một số vướng mắc về giá tính thuế GTGT về hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ, hoạt động kinh doanh bất động sản. Cụ thể, đối với hàng hoá tiêu dùng, nội bộ theo hướng dẫn tại Nghị định số 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT thì hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ phải tính thuế GTGT không bao gồm hàng hoá, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế.

Tuy nhiên, quy định này chưa rõ ràng nên phát sinh vướng mắc trong hướng dẫn thực hiện đối với những hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho hoạt động quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh. Ví dụ như quạt sản xuất ra lắp cho văn phòng; bánh, kẹo sản xuất ra để tiếp khách;... Theo đó cơ sở kinh doanh phải kê khai, tính thuế GTGT đầu ra đối với những hàng hoá này, sau đó lại kê khai, khấu trừ đầu vào, dẫn đến phát sinh thêm thủ tục và xác định doanh thu, chi phí chưa phù hợp với thực tế.

Vì vậy, để khắc phục vướng mắc nêu trên, Bộ Tài chính đã đề xuất sửa đổi rõ là: “Hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ quy định tại khoản này là hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung ứng sử dụng cho tiêu dùng ngoài quản lý, sản xuất, kinh doanh”.

Về giá tính thuế GTGT trong hoạt động kinh doanh bất động sản: Theo quy định hiện hành, các trường hợp cơ sở kinh doanh bất động sản thực hiện theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) đổi công trình lấy đất thì giá đất được trừ để tính thuế GTGT là giá tại thời điểm ký hợp đồng BT theo quy định của pháp luật.

Nhưng trên thực tế đã phát sinh trường hợp tại thời điểm ký hợp đồng BT, UBND cấp tỉnh và nhà đầu tư chưa xác định giá đất đổi lấy công trình. Do vậy, để bảo đảm bao quát trường hợp này, Bộ Tài chính trình Chính phủ bổ sung quy định giá đất được trừ là giá đất do UBND cấp tỉnh quyết định để thanh toán công trình.

Ngoài ra, trường hợp xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê, hiện hành quy định giá tính thuế GTGT là số tiền thu được theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng nhưng chưa quy định rõ giá đất được trừ khi tính thuế trên số tiền thu theo tiến độ này.

Để bảo đảm tính cụ thể đối với trường hợp này, Bộ Tài chính đề nghị bổ sung quy định: Giá tính thuế GTGT là số tiền thu được theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng trừ (-) giá đất được trừ tương ứng với tỷ lệ % số tiền thu được trên tổng giá trị hợp đồng.

Theo Thu Hằng



cucpth

Báo hải quan