TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Khúc trầm trong "bản giao hưởng FDI"

Khúc trầm trong "bản giao hưởng FDI"
Năm qua, vốn FDI chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp chế biến - chế tạo

Các chương trình xúc tiến đầu tư, nhất là với các dự án có quy mô lớn, liên vùng, các dự án của các nhà đầu tư chiến lược…

Sẽ khó đi đúng hướng nếu thiếu hệ thống quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch vùng gắn với chiến lược dài hạn về thu hút và sử dụng FDI.

FDI 25 năm nhìn lại

Kể từ năm 1987 khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành và những dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tiên đến trong năm 1998 đến nay đã 25 năm. Một phần tư thế kỷ đã qua, lúc thăng, lúc trầm dòng vốn FDI đã thể hiện vai trò tích cực trong quá trình phát triển của Việt Nam. Cũng một phần tư thế kỷ qua, càng cho thấy dòng vốn FDI đã bộc lộ rõ sự không ổn định với biểu đồ FDI đã thể hiện rõ chu kỳ sau khi vút tăng cao là giảm mạnh đi liền với những biến động nền kinh tế.

Trong các năm 1998 đến năm 2006, vốn đầu tư của các dự án FDI được cấp phép tăng khoảng 50% mỗi năm. Thời đó, Việt Nam đang trong giai đoạn hội tụ được những lợi thế tĩnh là ổn định chính trị, chi phí lao động thấp, vị trí địa lý đẹp và là một thị trường tiêu thụ tiềm năng. Việt Nam là kỳ vọng của những nhà đầu tư tiên phong, những nhà đầu tư luôn tìm thấy cơ hội sớm và họ nhìn nhận Việt Nam là một nền kinh tế mới mở nhiều tiềm năng và cơ hội. Năm 1996 FDI lập đỉnh đầu tiên.

Năm 1997 bắt đầu cho một thời kỳ suy giảm liên tiếp vốn FDI đăng ký kéo dài cho đến năm 2000. Với đặc thù FDI đến Việt Nam giai đoạn đầu chủ yếu là từ các nhà đầu tư châu Á nên khi châu Á rơi vào cuộc khủng khoảng tài chính là các nhà đầu tư thu hẹp vốn đầu tư. Nhưng sau khủng hoảng, Thái Lan, Indonesia và một số nước trong khu vực trở nên có sức cạnh tranh hơn do Việt Nam trở nên kém hấp dẫn. Cộng hưởng với tác động này là môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều cản trở.

Khi nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng, từ năm 2000 vốn FDI bắt đầu tăng trở lại với nhịp tăng dần đều cho đến năm 2005. Lúc này, cho dù đã có những ảnh hưởng nghiêm trọng từ sự đổ vỡ của bong bóng công nghệ thông tin ở Hoa Kỳ tác động đến các nền kinh tế châu Á, nhưng nhờ những nỗ lực và quyết tâm mạnh mẽ về cải thiện môi trường đầu tư nên Việt Nam vẫn là điểm đến nhiều tiềm năng.

Năm 2006, 2007 dòng vốn FDI bắt đầu có mức tăng mạnh và bất chợt vút cao lên đỉnh điểm ở năm 2008 với số vốn đăng ký trong 3 năm này lần lượt đạt 12 tỷ USD, 21 tỷ USD và 71,7 tỷ USD. Trong những năm này, Việt Nam được thế giới hướng tới và coi đây là điểm đầu tư hấp dẫn, hiệu quả vì có Luật DN 2005, Luật Đầu tư nước ngoài 2006 và gia nhập WTO năm 2007.

Đang từ đỉnh cao 71,7 tỷ USD ở năm 2008 (tăng tới 236% so với năm 2007), vốn FDI năm 2009 giảm mạnh, giảm tới 68% so với năm 2008 và tiếp tục đà giảm cho đến năm 2012. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, do khủng hoảng toàn cầu cũng như một số hạn chế nội tại của nền kinh tế khiến dòng FDI lại giảm mạnh 3 năm liên tục vừa qua.

Phía sau sự năng động

Với những lợi thế tự nhiên, Việt Nam hấp dẫn FDI. Với sự năng động của chính quyền các tỉnh luôn sẵn sàng trải thảm đỏ, Việt Nam hấp dẫn FDI. Và cho dù lúc bổng lúc trầm, 25 năm qua FDI là một khu vực quan trọng đóng góp gần 20% GDP, góp hơn 20% vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 50% kim ngạch xuất khẩu… Không thể phủ nhận FDI là khu vực năng động nhất của nền kinh tế.

Nhưng phía sau sự năng động của khu vực FDI, phía sau sự “năng động” sẵn sàng trải thảm đỏ mà không dè chừng tác động không tích cực, khiến FDI là bản nhạc đang ở khúc bi tráng.

Phía sau các khu công nghiệp hiện đại, phía sau các khu du lịch hấp dẫn, phía sau các nhà máy có vốn FDI là sự thật về công nghệ của phần lớn các dự án FDI là công nghệ trung bình và thấp. FDI xuất khẩu nhiều nhưng cũng nhập khẩu lớn.

“FDI tăng mạnh nhưng bên cạnh đó môi trường tự nhiên cũng xuống cấp trầm trọng với các vấn đề nổi bật như ô nhiễm môi trường, phát thải khí nhà kính, rừng bị chặt phá, và làm suy giảm đa dạng sinh học”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá. Các khu công nghiệp đã chia cắt môi trường sống, làm mất nơi cư trú và cạn kiệt nguồn thức ăn của nhiều loài sinh vật. FDI đổ vào du lịch quá nhiều đã làm suy giảm đa dạng sinh học, nhưng gia tăng rác thải…

Những ngày đầu tiên, các DN FDI hấp dẫn người lao động Việt Nam, là “hình mẫu” cho nhiều DN Việt Nam. Nhưng khoảng thời gian 25 năm đã làm lộ dần những điểm yếu của khu vực này khi tỷ lệ DN FDI thua lỗ cao, thậm chí đã có những DN lợi dụng chuyển giá khiến ngân sách Nhà nước Việt Nam vốn rất mỏng lại mất đi những khoản thu không nhỏ.

Gần đây có nhiều DN FDI phải dừng hoạt động do chủ DN “bỗng nhiên mất tích” ôm theo những khoản vay của NHTM và để lại các khoản nợ lương, nợ thuế, nợ BHXH... Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh cho biết, đã có 5.012 DN FDI gửi thông báo ngừng hoạt động trong đó có 1.198 DN chủ đã “mất tích”…

Rõ ràng những tác động không tích cực từ dòng FDI là không nhỏ, đòi hỏi sự giám sát và quản lý chặt chẽ hơn. Bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động và chủ đích lựa chọn nhà đầu tư của Việt Nam cũng ngày một nâng cao và đang hướng đến sự sàng lọc những dự án chất lượng đòi hỏi sự “kén chọn” hơn khi cấp phép để hướng dòng FDI theo như mục tiêu và kỳ vọng.

Để góp phần tăng cường quản lý dòng vốn FDI, NHNN đã xây dựng bản đề án Nâng cao hiệu quả công tác quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Bản đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 29/10/2012. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã dự thảo một bản đề án về định hướng thu hút FDI đến năm 2020. Các bản đề án này đang hướng đến sự thay đổi lớn về quản lý và thu hút FDI, đặt lại vị trí của FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam giai đoạn tới và tăng cường giám sát, hậu kiểm DN FDI…

“Vẫn thiếu một chiến lược thu hút, sử dụng và quản lý FDI ở tầm dài hạn, thiếu sự điều phối ở tầm quốc gia…”, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đưa ra nhận định quan trọng nhất rút ra được sau 25 năm. Theo ông, đây sẽ là chiến lược rõ ràng để dẫn hướng cho từng bộ phận của nền kinh tế, từ các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương trong xây dựng chính sách để lựa chọn và tiếp nhận dòng vốn quan trọng này, đảm bảo đúng tín hiệu thị trường và mục tiêu của nền kinh tế.

Tuy nhiên, nếu thiếu một cơ chế quản lý thống nhất, tập trung, đây có thể lại là rào cản lớn cho các kế hoạch dịch chuyển, nâng cấp chất lượng dòng vốn này. Thậm chí, các chương trình xúc tiến đầu tư, nhất là với các dự án có quy mô lớn, liên vùng, các dự án của các nhà đầu tư chiến lược… sẽ khó đi đúng hướng nếu thiếu hệ thống quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch vùng gắn với chiến lược dài hạn về thu hút và sử dụng FDI.

Theo Linh Đan

TBNH

cucpth

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên