TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Kịch bản kinh tế Việt Nam 2010 có thể dự báo?

Kịch bản kinh tế Việt Nam 2010 có thể dự báo?

Nhiều nhà phân tích cho rằng chính sách tỷ giá và vấn đề lãi suất sẽ là điểm nhấn về chính sách vĩ mô của Nhà nước đáng kể trong năm nay.

Ngoài những may mắn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm giảm sức ép đến lạm phát, kết quả tích cực của kinh tế Việt Nam 2009 còn phải kể đến những thay đổi chính sách của Chính phủ thời gian qua. Liệu kinh tế Việt Nam 2010 sẽ đi theo chiều hướng nào?

Lặp lại kịch bản 2009?

Đến thời điểm hiện tại, người viết cho rằng kịch bản kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2009 sẽ được lặp lại vào năm 2010, có thể nhận ra một vài điểm chính:

Kinh tế vĩ mô gặp những khó khăn vào quý 1/2010 do một số vấn đề: (i) tiếp tục chính sách thận trọng để kiểm soát lạm phát, đặc biệt là vấn đề tín dụng khi gặp phải 2 mốc quan trọng là tết dương lịch và nguyên đán; (ii) tăng trưởng trong quý 1 thông thường là quý thấp nhất của năm, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng hoàn toàn tương tự; (iii) thời điểm đầu năm, xuất khẩu kém hơn trong khi nhập khẩu gia tăng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, cộng thêm cần phải phân tích cụ thể hơn để thay đổi chính sách phù hợp.

Cuối quý 1, đầu quý 2/2010 sẽ có những thay đổi lớn về chính sách kinh tế. "Bóng ma" lạm phát có thể sẽ không đáng sợ như những gì ước tính ở thời điểm cuối năm 2009 nhờ sự hồi phục của đồng USD làm giảm áp lực lên khu vực thâm hụt thương mại và nhập khẩu lạm phát. Khi đó, các chính sách thúc đẩy tăng trưởng, nới lỏng tín dụng cũng như các biện pháp kích thích khác sẽ có dư địa để thực thi.

Sự tăng trưởng và ổn định có thể đạt được trong quý 2 và quý 3, tuy nhiên có khả năng sẽ có đợt ảnh hưởng từ kinh tế thế giới do 4 siêu cường: Mỹ, Nhật, EU và Trung Quốc. Kinh tế gia Paul Krugman đã dự báo xác suất khả năng nền kinh tế Mỹ suy thoái lại 1 lần nữa trong nửa cuối năm 2010 lên đến 30%.

Ông Roubini thì quan ngại đến vấn đề đồng tiền chung Châu Âu sẽ gặp những thách thức để tiếp tục tồn tại.

Các nhà kinh tế cũng e ngại về vấn đề tăng trưởng nóng của Trung Quốc và bong bóng tài sản. Nhật vẫn chưa khôi phục lại được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của mình... Mặc dù vậy, kỳ vọng vào sự ổn định của kinh tế Việt Nam nói riêng và kinh tế thế giới nói chung vào quý 2-3/2010 là có thể tin tưởng được.

Cuối quý 3 đến quý 4/2010 có lẽ những dấu hiệu về tăng trưởng tín dụng, lạm phát, thâm hụt,... tiếp tục có tác động đến chính sách kinh tế của Việt Nam tương tự như giai đoạn của năm 2009.

Và nếu một trong những vấn đề mà các nhà kinh tế quan ngại trở thành hiện thực thì có khả năng một đợt suy thoái trở lại vào giai đoạn cuối năm hoàn toàn có thể xảy ra, tuy nhiên nó sẽ không quá tồi tệ như những gì đã trải qua vào giai đoạn 2008-2009.

Cơ sở của kỳ vọng trên được minh chứng qua những dấu hiệu của tháng đầu năm nay, có liên tưởng đến những hệ quả của chính sách kinh tế vĩ mô trước đó.

Xuất nhập khẩu và thâm hụt thương mại

Để thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ban ngành phối hợp điều tiết nhằm thúc đẩy xuất khẩu và giữ mức mục tiêu cho nhập siêu năm 2010 ở mức dưới 20% kim ngạch xuất khẩu.

Trong tháng 1/2010 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 4,9 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đạt 6,2 tỷ USD. Như vậy, nhập siêu tháng 1/2010 đạt 1,3 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 26,5% kim ngạch xuất khẩu) đã làm gia tăng mối quan ngại cho rằng Việt Nam khó có thể đạt được mục tiêu nhập siêu thấp hơn 20% kim ngạch xuất khẩu và mức tuyệt đối là 12 tỷ USD.

Tuy nhiên, với một cách nhìn lạc quan về triển vọng phục hồi của nền kinh tế thế giới thì những tháng tiếp theo chúng ta vẫn kỳ vọng vào sự tăng trưởng mạnh của xuất khẩu. Tập đoàn than và khoáng sản lên kế hoạch xuất khẩu 18 triệu tấn than trong năm 2010. Xuất khẩu gạo năm 2010 cũng được đánh giá là "năm vàng" cho ngành này. Tập đoàn cao su Việt Nam cũng ước tính kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 1,5 tỷ USD trong năm 2010, tăng 25% so với năm 2009 (năm 2009 đạt 1,2 tỷ USD). Dệt may cũng đặt kế hoạch xuất khẩu 10,5 tỷ USD trong năm 2010 so với 9,1 tỷ USD của năm 2009; ngành thuỷ sản cũng dự kiến tăng trưởng 10% kim ngạch xuất khẩu trong năm nay....

Một xưởng may tại Biên Hòa, Đồng Nai. Ảnh nguồn: New York Times

Trong khi đó, những nhu cầu nhập khẩu những hàng hoá thiết yếu như ô tô sẽ giảm sút do những ưu đãi về thuế đã kết thúc cùng gói kích cầu tiêu dùng của Chính phủ vào 31/12/2009.

Một cơ hội, nằm ngoài dự kiến dài hạn trước đây, đó là chất lượng sản phẩm hàng tiêu dùng và thực phẩm chế biến của Trung Quốc - thị trường chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2009 - đang mất dần lòng tin của người tiêu dùng trong nước cũng làm cho giá trị nhập khẩu giảm đáng kể và là cơ hội cho hàng trong nước chiếm ưu thế. Do đó, với những thông tin tích cực về kinh tế, năm 2010 Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu kiểm soát nhập siêu thấp hơn 20% kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, trong từng thời đoạn thì con số này sẽ có những biến động đáng kể. Nhiều khả năng nhập siêu sẽ giảm dần trong tháng 2-3 và tăng trở lại trong quý 2 và quý 4, phù hợp với chu kỳ kinh tế dự báo của Việt Nam.

Tỷ giá hối đoái

Tháng 11/2009, NHNN chính thức áp dụng tỷ giá niêm yết và biên độ tỷ giá mới, với biên độ thu hẹp từ +5% xuống +3%, trong khi đó lại tăng tỷ giá niêm yết từ 17.034 VND/USD (25/11/2009) lên 17.961 VND/USD (26/11/2009) đã làm cho tỷ giá tăng 5,44%, kết hợp với việc thay đổi lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%/năm.

Việc thay đổi tỷ giá được đánh giá là bước đi quan trọng nhằm giảm bớt những khó khăn cho hệ thống ngân hàng trong việc huy động USD tài trợ cho nhu cầu xuất khẩu, cũng như thay đổi sự mất cân đối nguồn ngoại tệ giữa thị trường chính thức và thị trường chợ đen. Đồng thời điều này cũng làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam so với hàng nhập khẩu, từ đó chuyển dịch cán cân thương mại có lợi cho ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

Tuy nhiên, thời điểm và cách thức thay đổi lại là vấn đề cần tiếp tục thảo luận. Vào lúc Việt Nam thay đổi chính sách tỷ giá thì đồng USD khá yếu so với các ngoại tệ khác, do đó việc nhập khẩu bằng đồng ngoại tệ khác như EURO, bảng Anh,... sẽ làm gia tăng gánh nặng cho kim ngạch nhập khẩu khi tính theo đồng VND.

Mặt khác, những thay đổi chính sách mang tính chất tức thời đã làm cho các doanh nghiệp có khoản vay bằng đồng ngoại tệ chịu một sức ép rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh khi không có đủ thời gian để thực hiện các nghiệp vụ phái sinh cho khoản vay này. Tiêu biểu trên thị trường chứng khoán niêm yết là trường hợp của Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại - PPC với khoản vay bằng đồng YEN cho hoạt động đầu tư mở rộng nhà máy của mình.

Về mặt bản chất, chính sách tỷ giá cũng cần phải thay đổi linh hoạt dựa trên những số liệu về cung cầu ngoại tệ. Theo một số nhà phân tích, chính việc mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do quá phổ biến vừa làm Chính phủ gặp những khó khăn trong việc điều hành chính sách, vừa tăng tổng phương tiện thanh toán của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo thống kê, kiều hối năm 2009 của Việt Nam lên đến 6,3 tỷ USD nhưng chỉ có 10% được bán cho ngân hàng.

Cũng theo kế hoạch năm 2010 thì nguồn thu USD của Việt Nam khá tốt, nguồn vốn FDI giải ngân dự kiến đạt 10 tỷ USD, nguồn ODA cam kết cho năm 2010 lên mức kỷ lục là 8 tỷ USD, cộng thêm 1 tỷ USD vừa phát hành thành công trái phiếu chính phủ, chưa tính đến nguồn kiều hối, đầu tư gián tiếp, khách du lịch,... Như vậy, nếu tính tổng thể thì cung cầu về ngoại tệ năm 2010 không quá khó khăn khi mục tiêu nhập siêu năm nay khoảng 12 tỷ USD trong khi nguồn cung xấp xỉ 20 tỷ USD. Tuy nhiên, do dòng vốn vào - ra có tính lệch kỳ nên cũng có khả năng xuất hiện tình trạng thừa/thiếu tạm thời, điều này sẽ làm cho tỷ giá có những dao động nhất định.

Nhiều nhà phân tích cho rằng chính sách tỷ giá sẽ là tâm điểm của kinh tế vĩ mô năm 2010. Nhưng thực tiễn cũng cảnh báo thêm là: ngoài tỷ giá thì vấn đề lãi suất cũng sẽ là điểm nhấn về chính sách vĩ mô của Nhà nước đáng kể trong năm nay.

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Việt Nam cần tăng trưởng để tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nhưng cũng cần phải ổn định lạm phát để tránh ảnh hưởng đến các mặt của đời sống kinh tế xã hội, do đó mục tiêu của Chính phủ trong năm 2010 là ổn định để tăng trưởng.

Chính sách này được thể hiện rất rõ khi NHNN thực hiện các biện pháp hạn chế tăng trưởng tín dụng ngay thời điểm cuối năm 2009 khi một số dấu hiệu của lạm phát trở lại. Đây được coi là chính sách phòng ngừa của NHNN, khác so với giai đoạn trước, chủ yếu chính sách là ngăn chặn, sửa chữa.

Có thể thấy lạm phát của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng bởi 2 nguồn: nguồn trong nước do các vấn đề về tăng trưởng tín dụng, mặt bằng giá cả thay đổi do các yếu tố đầu vào như: điện, than... Nguồn từ bên ngoài tác động, đó là giá cả của các mặt hàng như: nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng,...

Đối với nguồn trong nước, trong tháng 1/2010 thì tăng trưởng tín dụng chỉ có 1%, nhưng điều đáng nói là tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng chỉ tăng có 0,3%, cho thấy nguồn vốn của dân cư vẫn chưa tìm đến các ngân hàng do chênh lệch suất sinh lợi giữa các cơ hội đầu tư.

Tiềm ẩn ảnh hưởng đến CPI năm 2010 nhiều có lẽ là kế hoạch tăng giá bán than, điện, việc tăng lương theo kế hoạch cũng sẽ ảnh hưởng đến giá cả hàng tiêu dùng trong nước.

Đối với nguồn bên ngoài thì hoàn toàn phụ thuộc vào mặt bằng giá của nguyên vật liệu và hàng tiêu dùng, chủ yếu các hàng hoá này được định giá bằng đồng USD, do đó tác động lên CPI dựa trên 2 điểm: (i) tương quan sức mạnh đồng USD so với các ngoại tệ khác; (ii) chính sách tỷ giá của Việt Nam.

Nâng tỷ giá, về mặt lý thuyết sẽ làm cho hàng nội địa cạnh tranh hơn so với hàng nhập khẩu, tuy nhiên thực tế thì có thể sẽ tăng sức ép lên lạm phát do chính hàng trong nước nâng giá lên để tương ứng với hàng nhập khẩu tăng giá do tỷ giá thay đổi. Như thế, thay vì nâng sức cạnh tranh thì hàng nội địa nâng giá để hưởng lợi.

Những diễn biến tích cực của sức mạnh đồng USD trong thời gian qua cũng sẽ là nhân tố tốt ủng hộ cho những chính sách của Chính phủ trong vấn đề kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng.

Việc thay đổi rổ hàng hoá để tính CPI, bắt đầu từ tháng 1/2010 cũng sẽ làm cho chỉ số CPI thay đổi so với cách tính trước đây, theo công bố của Tổng cục thống kê thì tỷ trọng của hàng ăn và dịch vụ ăn uống lên đến 39,93%, chiếm tỷ trọng cao nhất trong 11 nhóm hàng sử dụng để tính CPI của Việt Nam.

Mục tiêu của Việt Nam trong năm 2010 là kiềm chế lạm phát ở mức 1 con số và tăng trưởng 6,5%. Trong tháng 1/2010 nếu như CPI tăng 1,36% so với tháng 12/2009 nhưng chỉ tăng 7,62% so với tháng 1/2009. Trong khi đó, sản xuất công nghiệp trong tháng 1/2010 đạt mức 62.8 ngàn tỷ đồng, tăng 28.4% so với tháng 1/2009.

Có thể thấy, khả năng Việt Nam đạt được mức tăng trưởng 6-6,5% trong năm 2010 là khả thi, đồng thời những diễn biến hiện tại cho thấy lạm phát không phải là vấn đề quá lớn đối với Việt Nam trong năm 2010.

Theo Thanh Bình

Tuần Việt Nam

thanhhuong

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên