TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Lạm phát, tỷ giá và những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam 2010

Lạm phát, tỷ giá và những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam 2010

Một trong những nguyên nhân dẫn đến Tín dụng đã thắt chặt nhưng lạm phát vẫn tăng là xuất hiện vấn đề chèn ép tín dụng của khu vực nhà nước với khu vực đầu tư kinh doanh tư nhân.

Năm 2010 là năm có nhiều tổ chức quốc tế dự báo về tăng trưởng của Việt Nam, kể cả EIU: dự báo tăng trưởng GDP năm 2010 là 6,7% và 7% cho năm 2011. Tuy nhiên đằng sau bức tranh tăng trưởng này tồn tại những bất ổn vĩ mô: Lạm phát, thâm hụt ngân sách,…

Lạm phát thúc đẩy bởi tăng trưởng tín dụng – xuất hiện “chèn ép tín dụng”

Tính hết tháng 11, lạm phát của Việt Nam ở mức gần 9,6%. Lạm phát trong thời gian qua nằm trong tình trạng sức ép của tăng giá. Sức ép này có quan hệ khá chặt với tốc độ tăng trưởng tín dụng ít nhất đến giữa năm 2010.

Thông thường, áp lực lạm phát xuất hiện sau khi tín dụng tăng tốc với độ trễ 6-8 tháng; Sức ép lạm phát cao, Ngân hàng Nhà nước “khóa vòi” tín dụng, một thời gian sau lạm phát đi xuống.

Tuy nhiên, thời gian qua, tín dụng đã thắt chặt nhưng lạm phát vẫn tăng, quan hệ sức ép của tăng giá và tốc độ tăng trưởng tín dụng không còn nữa. Rõ ràng, năm 2010, doanh nghiệp không còn dễ dàng vay vốn.

Giải thích về vấn đề này, theo Ths Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc Chính sách công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Việt Nam có 2 lý do:

Một, xuất hiện vấn đề chèn ép tín dụng của khu vực nhà nước (cả ngân sách lẫn doanh nghiệp nhà nước) và khu vực đầu tư kinh doanh tư nhân. Năm 2010 là năm Chính phủ phát hành trái phiếu thành công. Các ngân hàng trong nước đã mua trái phiếu chính phủ, sau đó Ngân hàng thương mại (NHTM) dùng trái phiếu chính phủ thế chấp vay tiền Ngân hàng nhà nước (NHNN).

NHNN qua hoạt động Thị trường mở (OMO), bơm tiền cho NHTM. Bình thường NHTM dùng tiền này cho vay làm cho tăng trưởng tín dụng tăng. Năm 2010, NHTM đã dùng tiền này cho việc mua trái phiếu chính phủ - sinh lợi an toàn. NHNN vẫn bơm tiền ra, nhưng tiền này không đi vào khu vực tư nhân mà đi ngược vào nhà nước thể hiện chèn ép tín dụng khu vực nhà nước với khu vực tư nhân.

Thời gian qua cung tiền trong nền kinh tế tăng. Mặc dù thể hiện, tín dụng nội địa trong nền kinh tế không tăng , nhưng thực chất, một phần  tín dụng đã đi vào khu vực nhà nước và không được phản ánh qua các số liệu tăng trưởng tín dụng. Do đó Cung tiền tăng, kéo theo làm phát cao.


Hai, vấn đề từ hệ thống các ngân hàng. Thời kỳ 2006 - 2010, vừa cho phép chuyển đổi các tổ chức tín dụng nông thôn sang ngân hàng, thành lập các NHTMCP nhỏ vừa cho vay mạnh. Thời gian qua, mặc dù khó khăn rất nhiều nhưng các ngân hàng này vẫn đứng vững. Tuy nhiên, hiện nay một số ngân hàng đang trong tình trạng căng thẳng về thanh khoản do áp lực cạnh tranh dẫn đến áp lực phải tăng lãi suất.

Trong khi đó, áp lực lạm phát cao làm cho NHNN muốn kiềm chế lạm phát, tăng lãi suất. Nhưng vừa tăng lãi suất, sẽ làm xáo trộn trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng nhỏ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng. Do đó, NHNN phản ứng lại bằng cách bơm tiền ra qua OMO dẫn đến chính sách điều hành không nhất quán, áp lực vẫn tồn tại.

Mất cân đối ngoại thương - Thâm hụt tài khoãn vãng lai lớn

3 năm trở lại đây mức thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam lớn (đã được bù bởi kiều hối chuyển về). Năm 2009, theo số liệu của World Bank thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam khoảng 7,7%GDP - trên 5%GDP là ở mức báo động.

Nhập siêu quá lớn là một nguyên nhân. Việt Nam tăng nhập khẩu nhanh hơn tăng xuất khẩu. Ngoài ra để sản xuất hàng xuất khẩu, Việt Nam cũng cần phải nhập khẩu nguyên vật liệu chế biến do Việt Nam thiếu ngành công nghiệp phụ trợ.

Rõ ràng, Việt Nam thiếu ngành công nghiệp phụ trợ từ trước, do đó vấn đề không nằm lại ở nhập siêu. Tỷ giá là một nguyên nhân trong thâm hụt tài khoản vãng lai. Đồng NDT – Trung Quốc được duy trì thấp giá so với USD, Việt Nam duy trì tiền VND cao giá so với USD. Như vậy, VND cao so với NDT – Việt Nam nhập khẩu lớn nhất từ Trung Quốc.

Tỷ giá - điều hành theo nguyên tắc không để 2 giá

Hiện nay dự trữ ngoại hối của Việt Nam đủ cho nhập khẩu 6 tuần – tương đương khoảng 11 tỷ USD. Trong thời gian qua, Việt Nam liên tục bán ngoại tệ ra để can thiệp tỷ giá. Sau mỗi lần can thiệp thị trường ổn định được thời gian, áp lực trở lại. Tình hình hiện nay, không như trước đây, khi tỷ giá biến động, chúng ta có thể can thiệp- ổn định tỷ giá bằng cách bán ra USD.

3 lựa chọn can thiệp tỷ giá trong thời gian qua: không điều chỉnh tỷ giá chính thức đến hết năm 2010 – tồn tại giá thực tế - giá USD tự do; bán dự trữ ngoại hối – không thể can thiệp như trước đây; tăng lãi suất – vừa tăng xong lại phải bơm tiền ra. Như vậy, các lựa chọn can thiệp tỷ giá trong thời gian qua không phát huy được tác dụng. Việt Nam đang tồn tại 2 mức tỷ giá: tỷ giá thực tế cao hơn tỷ giá chính thức.

Theo ông Thành, tỷ giá cao không phải do yếu tố tâm lý mà do yếu tố nền tảng kinh tế Việt Nam: bơm tiền, thâm hụt thương mại, giảm dự trữ. Việc điều chỉnh tỷ giá chính thức không phải là nguyên nhân làm lạm phát tăng lên – do tỷ giá tự do tăng, giá đã tăng; chỉ làm nợ nước ngoài của Việt Nam chính thức tăng lên.

Nếu tỷ giá được điều chỉnh đến mức cân bằng, nhưng nếu tình trạng chèn ép tín dụng của khu vực nhà nước với tư nhân không được xử lý ( NHNN tiếp tục bơm tiền ra) thì tỷ giá tiếp tục tìm mức cân bằng mới.

Thị trường tài chính chưa phát triển nếu theo chính sách tỷ giá thả nổi, sẽ có nhiều biến động quá lớn, nên Việt Nam cần kiểm soát tỷ giá.

Ngoài ra, vấn đề không phải Việt Nam phá giá đồng nội tệ vì VND đã mất giá, Việt Nam cần tập trung vào thắt chặt để ổn định ở mức tỷ giá thực tế hiện nay. Điều hành tỷ giá phải theo nguyên tắc không để 2 giá để cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp đều kỳ vọng giá không chênh lệch – có thể có độ trễ. Khi đó chúng ta mới yên tâm vào việc bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán, bất động sản, hay các loại hàng hóa khác.

Ý kiến của Ths Nguyễn Xuân Thành:

Nền kinh tế của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào vốn nước ngoài: vàng và USD; thị trường chứng khoán; thị trường bất động sản. Với bất ổn hiện nay – bất ổn tỷ giá rất khó cho các nhà đầu tư nước ngoài giải ngân.

Về vấn đề nợ công, tôi nghĩ chúng ta không nên nghĩ tới con số nợ công, vì chắc chắn chính phủ chúng ta còn vay nợ thêm. Bởi các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng, không dùng vốn ngân sách, nên phải tiếp tục phát hành nợ: nợ trong nước và nợ nước ngoài: bao gồm nợ ODA và nợ OCR – vốn viện trợ dựa vào lãi suất thị trường. Vấn đề đặt ra là hiệu quả sử dụng nợ.

Chỉ tiêu tăng trưởng GDP đã loại bỏ yếu tố lạm phát. Lạm phát cao hơn tăng trưởng GDP không phải là vấn đề đáng quan ngại bằng quan điểm cần phải lạm phát thúc đẩy tăng trưởng. Chúng ta nên có chính sách đảm bảo lạm phát thấp 4-5%, báo động nếu cao hơn mức này.

Q. Nguyễn

phuongmai

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM