TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Một số nội dung mới thay đổi về chính sách thuế tài nguyên

Một số nội dung mới thay đổi về chính sách thuế tài nguyên

Chính sách thuế tài nguyên có những thay đổi lớn cả về phạm vi áp dụng, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế (Người nộp thuế), căn cứ tính thuế và chính sách miễn, giảm thuế.

Quốc hội đã thông qua Luật thuế tài nguyên, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định chi tiết và ngày 23/7/2010 Bộ Tài chính cũng đã có Thông tư hướng dẫn cụ thể về thuế tài nguyên. Chính sách thuế lần này có những nội dung mới.

Về phạm vi áp dụng: Thuế tài nguyên đã mở rộng đối với hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu thô, condensat và khí thiên nhiên, khí đồng hành, khí than tại Việt Nam.

Về đối tượng chịu thuế: Ngoài 6 loại đối tượng chịu thuế tài nguyên quy định trước đây là: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; sản phẩm rừng tự nhiên; thuỷ sản tự nhiên (cần lưu ý quy định mới đối tượng chịu thuế không bao gồm thuỷ sản nước ngọt khai thác từ ao, hồ, đầm, sông, suối...); nước tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khác.

Chính sách thuế tài nguyên lần này còn quy định thêm một số đối tượng sau: Dầu thô; khí thiên nhiên; khí than; các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật (do cấm đánh bắt) và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ; hải sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển; nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất; yến sào thiên nhiên;

Các tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Về căn cứ tính thuế: Theo quy định mới về thuế tài nguyên thì căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên tính thuế (thay cho sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác trong kỳ), giá tính thuế đơn vị tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên, trong đó giá tính thuế đơn vị tài nguyên được áp dụng tương ứng với loại tài nguyên chịu thuế của kỳ tính thuế.

Về giá tính thuế đối với một số trường hợp như sau:

Trường hợp xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên: giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên khai thác chưa bao gồm thuế GTGT (không phân biệt địa bàn tiêu thụ) và được áp dụng làm giá tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng có cùng phẩm cấp, chất lượng, không phân biệt một phần vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ hoặc đưa vào sản xuất, chế biến, sàng tuyển, phân loại; Giá bán của một đơn vị tài nguyên được tính bằng tổng doanh thu (chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng loại tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng.

Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán tài nguyên khai thác thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo: Giá bán thực tế trên thị trường khu vực (trước đây quy định là giá bán bình quân trên thị trường) của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại, có giá trị tương đương, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (trước đây quy định là giá bán đơn vị sản phẩm nguyên chất và hàm lượng chất này trong tài nguyên khai thác).

Về thuế suất thuế tài nguyên: Thuế suất thuế tài nguyên được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Luật quy định khung thuế suất và giao Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên. Luật quy định phân nhóm lại khung thuế suất từ 1 - 35% đối với từng nhóm, loại tài nguyên chi tiết hơn; thu hẹp biên độ khung thuế suất, nâng mức thuế suất sàn của các loại tài nguyên thuộc nhóm khoáng sản kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác. Không có thuế suất 0% vì đây là tài nguyên quốc gia, bất kỳ ai sử dụng cũng phải có nghĩa vụ đóng góp.

Về chính sách miễn, giảm thuế tài nguyên:

Đối tượng được miễn giảm: Ngoài 4 trường hợp được miễn, giảm thuế tài nguyên trước đây (Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng biển xa bờ bằng phương tiện có công suất lớn; Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoạt động đánh bắt hải sản, sản xuất muối chưa qua chế biến; Nước thiên nhiên dùng vào sản xuất thuỷ điện không đủ điều kiện hoà vào mạng lưới điện quốc gia. Tổ chức, cá nhân khai thác đất);

Chính sách thuế tài nguyên mới không quy định miễn thuế cho gỗ khai thác để hạn chế việc chặt phá rừng, đồng thời quy định thêm một số trường hợp được miễn, giảm thuế tài nguyên như sau:

Người nộp thuế tài nguyên gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế thì được xét miễn, giảm thuế.

Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác hải sản tự nhiên.

Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác cành, ngọn, củi, tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô do cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh hoạt.

Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện của hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất phục vụ sinh hoạt.

Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt.

Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác đất và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê; đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, đê điều.

V.Minh
Theo Tổng cục thuế

tuyetminh